Kênh thông tin giải trí hàng đầu

Tin tức trong nước 24 giờ qua được cập nhật thường xuyên và nóng hổi

Cùng tim hiểu, khám phá những dang lam thắng cảng Việt

Những Danh lam thằng cảnh tuyệt đẹp, nơi sưu tầm những danh lam thắng cảnh đẹp nhât hiện nay

Những khu du lịch sinh thái đẹp nhất

Du lịch Việt, Những danh lam thắng cảnh đẹp nhất

Du lịch Biển đẹp

Tham gia những tuor du lịch tới mọi miền thế giới

Khám phá thiên Nhiên kì thú

Cùng tham gia khám phá những bí ẩn thiên nhiên kì thú

Hiển thị các bài đăng có nhãn Động. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Động. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 29 tháng 6, 2013

Tam Cốc mùa vàng

Nằm cách Hà Nội khoảng hơn 100 km về phía Nam, Tam Cốc – Bích Động là một điểm du lịch được mệnh danh “Nam thiên đệ nhị động” (tức là động đẹp thứ nhì trời Nam). Dòng sông Ngô Đồng xuyên qua ba động đá trong vùng núi thuộc địa phận thôn Văn Lâm, xã Ninh Hải, huyện Hoa Lư, Ninh Bình lại ngập “ánh vàng”.

Tam Cốc có nghĩa là 3 hang, gồm: hang Cả, hang Hai và hang Ba. Cả ba hang đều được tạo thành bởi dòng sông Ngô Đồng đâm xuyên qua núi.

Đây là điểm du lịch thuộc danh thắng Tràng An được ví như Vịnh Hạ Long trên cạn. Nếu Hoa Lư là nơi xây dựng đền thờ vua Đinh và vua Lê vào thế kỷ 10 và sau này được trùng tu lại vào thế kỷ 17 thì Tam Cốc lại là nơi quay về ở ẩn của vua Lê với phong cảnh non xanh nước biếc hữu tình.

Nơi đây vẫn còn giữ được nét nguyên sơ với nhiều hang động, di tích lịch sử, văn hóa nổi tiếng trong và ngoài nước như: Đền Thái Vi, Tam Cốc, chùa Bích Động, vườn chim ở tỉnh Ninh Bình… là điểm hấp dẫn của du khách trong và ngoài nước. Trải qua bao biến cố, thăng trầm của lịch sử, nơi đây vẫn giữ được vẻ đẹp hết sức tự nhiên và cuốn hút đến lạ kỳ.

Ðến đây du khách sau khi viếng thăm chùa, con thuyền nhỏ sẽ đưa du khách đi quanh co trong hang núi huyền ảo. Từ Bích Ðộng du khách tiếp tục ngồi thuyền đi thăm Tam Cốc với một con đường thủy duy nhất vào ra mất khoảng hai tiếng đồng hồ. Tam Cốc nghĩa là ba hang: hang Cả, hang Hai và hang Ba. Lúc thuyền luồn vào ba hang, du khách sẽ cảm thấy mát lạnh. Thạch nhũ từ trần hang rủ xuống lô nhô óng ánh như những khối châu ngọc kỳ ảo.

Thênh thang giữa trời mây sông nước vào ngày mùa, chiếc thuyền nan với những tay chèo khéo léo sẽ đưa bạn luồn lách trong những hang động mát mẻ. Nhũ từ trần hang rủ xuống lấp lánh như châu ngọc soi bóng nước. Tý tách vang vọng vào vách đá, những giọt nước từ nhũ đá trong hang nhỏ đều đều tạo nên bản nhạc thiên nhiên trong trẻo, mơ hồ.

Hang Cả là hang lớn nhất và cũng là hang đẹp nhất, với chiều dài 127m nằm dưới một quả núi lớn vắt ngang qua dòng Ngô Đồng. Du khách sẽ cảm nhận được không khí trong lành, mát lạnh của hương đồng gió nội, khi đi sâu vào lòng hang, thạch nhũ từ trần hang rủ xuống lô nhô óng ánh như những khối châu ngọc kỳ ảo. Tiếp tục cuộc hành trình xuyên thủy, du khách vào hang Hai và hang Ba. Cũng gần giống như hang Cả nhưng hai hang này ngắn và thấp hơn.

Qua cả ba hang động là ba lần ly-hợp với những bản nhạc thiên nhiên và không gian hang động kỳ bí. Ba lần du khách sẽ ngỡ ngàng khi chiếc thuyền nan đưa du khách rời hang trôi đi trên dòng sông vàng óng ả. Thảm lúa hai bên dòng sông Ngô Đồng chín vàng trĩu bông xuống dòng nước màu ngọc bích khiến cho bức “thanh sơn bích thủy” thêm phần rực rỡ bởi một nét bút uốn lượn trên thảm vàng rực rỡ mà mềm mại, sóng nước lẫn cùng sóng lúa dập dìu.

Hãy đừng ngần ngại mà tìm lấy một lối mòn dẫn lên lưng chừng núi sát ngay phía trên của hang Hai. Đứng trên độ cao hơn trăm mét, phóng mắt ngắm nhìn dòng sông Ngô Đồng và những bóng thuyền đang chở lúa chín vàng đi xuôi ngược. Những bóng nón lá lom khom của người nông dân gặt lúa, thỉnh thoảng lại ngẩng lên, mang theo dưới nón một nụ cười, hương lúa, hồn người hòa quyện vào thiên nhiên sống động. Những du khách ưa thích mạo hiểm có thể tiếp tục xuôi thuyền theo dòng Ngô Đồng khoảng 2km nữa tới thăm suối Tiên và tham gia chuyến du lịch mạo hiểm leo núi vào đền Nội Lâm.

Tam Cốc không phải là điểm đến xa lạ với khách du lịch trong và ngoài nước khi đến với Ninh Bình. Tuy nhiên, để có được những cảm xúc thực sự với điểm đến từng được mệnh danh là một “Hạ Long trên cạn” này thì du khách phải chọn đúng ngày mùa. Khi những bông lúa vàng trĩu hạt rủ xuống dòng sông. Ấy là thời điểm tốt nhất để đến với Ninh Bình, đến với dòng sông Ngô Đồng và ba động đá.

Tam Cốc còn hấp dẫn bởi nó nằm trong một vùng danh thắng với những điểm đến hấp dẫn và thuận lợi như Lăng vua Đinh - vua Lê, Bích Động, Đầm Vân Long, khu danh thắng Tràng An, chùa Bái Đính… Tất cả hòa hợp cùng nhau tạo nên một điểm đến vàng cho du khách gần xa.

Du lịch, GO! - Tổng hợp từ An ninh Thủ đô, báo Ninh Bình và nhiều nguồn ảnh khác

Thứ Bảy, 22 tháng 6, 2013

Huyền bí động Linh Sơn ở Thái Nguyên

Con đường âm phủ xuyên trong bóng tối âm u. Đáy hang chưa từng có bước chân người tới, ném đá không nghe tiếng chạm đất vọng lại.

Từ "đường âm phủ" kỳ bí…

< Lối vào động Linh Sơn.

Nằm giữa vùng đồi núi hoang vu, quanh năm mát mẻ, động Âm phủ nằm trong quần thể hang động Linh Sơn (Thái Nguyên), là nơi trước đây Nguyên phi Ỷ Lan từng ban chiếu lập đền. Con đường âm phủ xuyên trong bóng tối âm u. Đáy hang chưa từng có bước chân người tới, ném đá không nghe tiếng chạm đất vọng lại, càng khiến nơi đây nhuốm màu huyền bí.

< Hang địa với "đường âm phủ" sâu hun hút.

Hang Âm phủ hay còn gọi là hang Địa nằm trong quần thể hang động Linh Sơn, vốn là một trong những danh lam thắng cảnh đẹp của nước ta, được nhiều du khách biết đến.

Động Linh Sơn thuộc xóm Núi Hột, xã Linh Sơn, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên, cách thị trấn Chùa Hang, huyện Đồng Hỷ 3km về phía Đông Nam. Quần thể động nằm trong Núi Hột, ngọn núi đá vôi chơ vơ bên dòng sông Linh Nham, tách hẳn các bản làng, khu dân cư của huyện Đồng Hỷ. Động nằm sát chính giữa chân Núi Hột gồm hai hang đá tự nhiên ăn sâu vào lòng núi. Diện tích hai hang rộng khoảng gần 1.000m². Cả hai hang đều chung một cửa chính rộng 5m.

Rẽ trái vào hang Thiên, nền hang bằng phẳng và có các bậc lên như bậc tam cấp. Hang Thiên rộng chừng hơn 360 m2. Tại đây có bệ thờ Phật bằng đá tạo thành những chùm san hô, hình voi chầu, hổ phục, kì lân, sư tử... cùng những cảnh đẹp cuốn hút lòng người như động Thuỷ Tiên và đặc biệt là đôi rồng vờn mây uốn lượn trong một thế giới huyền ảo của nhũ đá thiên nhiên. Cuối hang Thiên về phía tây có đường đi lên đỉnh Núi Hột.

Đứng từ đỉnh Núi Hột có thể quan sát được toàn bộ trung tâm xã Linh Sơn với cảnh quan đẹp đẽ, nên thơ. Rẽ phải đi sâu xuống vài chục mét là đến hang Địa, có đường thông lên hang Thiên và nhiều đường đi sâu vào lòng núi tối hun hút. Hang Địa có diện tích rộng hơn hang Thiên, khoảng hơn 480 m2 sâu và thấp hơn hang Thiên vài chục mét. Nền hang khá bằng phẳng, rộng rãi, thấp dần tạo thành những chiếu nghỉ rộng lớn.

Nơi đây không gian yên tĩnh, thiên nhiên huyền ảo với nhiều hình tượng đẹp được tạo thành bởi nhũ đá như hình bút tháp, mẹ bồng con... Xưa kia nhân dân đã từng dùng động làm chỗ thờ Phật. Trong động hiện vẫn còn pho tượng Phật Thích Ca bằng đồng cổ xưa, một số tượng phủ sơn son thiếp vàng và vố số tượng đá tự nhiên trên các bề mặt đá. Nơi đây không gian tĩnh tại, thiên nhiên huyền ảo với vô vàn những hình tượng đẹp được tạo thành sau hàng nghìn năm.

Nơi đây xưa kia còn được gọi bằng cái tên hang Dơi khi quanh năm suốt tháng, hàng ngàn con dơi đậu kín trần hang, người yếu bóng vía mà vào hang tối sẽ phát hoảng khi nghe tiếng dơi kêu lít chít trên đầu.

Cụ Phạm Thị Hấn, dân gốc bản Linh Sơn xưa, năm nay đã gần 80 tuổi kể: "Hàng tháng rất đông du khách đến đây vãn cảnh núi non, hang động nhưng hàng chục năm ở đây trông coi hang, tôi chưa từng thấy ai dám đi sâu xuống phía dưới hang địa. Người ta kháo nhau là đường xuống âm phủ, nơi đó lại rất tối, đèn pin dù sáng đến mấy cũng chỉ lờ mờ không nhìn rõ mặt người, nên chẳng ai dám xuống. Cũng không ai biết dưới đó có những gì".

Đến tấm bia cổ trên vách núi

< Cụ bà Phạm Thị Hấn trông coi động từ khi nơi đây còn bị bao phủ bởi rừng cây.

Những lời đồn về sự linh thiêng, bí ẩn của khu động càng thêm huyền bí khi truyền thuyết xưa chép lại trận đánh từ thời nhà Lý, các tướng lĩnh và binh lính lấy hang Linh Sơn làm nơi trú chân, trữ lương thực cầm quân đánh giặc ngoại sâm. Nhưng sau đó, hàng trăm tướng lĩnh và binh lính đã tử trận dưới gươm đao quân Tống.

Truyền thuyết còn kể về những linh hồn binh sĩ tử trận lang thang nơi vùng núi Linh Sơn, cho đến khi Nguyên phi Ỷ Lan trong một lần kinh lý tới đây đã cảm động mà ban chiếu cho lập đền thờ các binh sĩ tử trận.

< Thạch nhũ tự nhiên giống hình con voi.

Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, động là nơi đóng quân, để kho tàng của một số cơ quan đơn vị bộ đội của tỉnh, liên khu phục vụ kháng chiến. Đây cũng là nơi Bệnh viện Đa Khoa Bắc Thái (cũ) sơ tán vào làm việc, tránh bom B52 giải thảm của Mỹ. Quần thể động Linh Sơn rất xứng đáng được được bảo vệ.

Từ bấy đến nay, hàng năm cứ vào ngày mùng 8 tháng giêng sau Tết Nguyên Đán, nơi đây lại tổ chức lễ hội Động Linh Sơn, như một phần nghi lễ tưởng niệm binh sĩ tử trận năm xưa. Du khách nườm nượp đổ về đây vừa để cầu mong một điều tốt lành, vừa để đắm mình trong khung cảnh thần tiên của Động Linh Sơn và chiêm ngưỡng những dấu tích từ hàng trăm năm trước còn sót lại.


< Bia khắc trên vách đá được che sơ sài.

Trên vách núi Linh Sơn ngày nay vẫn còn nguyên vẹn dấu tích của văn bia cổ khắc từ hàng trăm năm trước. Cụ Nguyễn Văn Lợi (Linh Sơn, Đồng Hỷ) cho biết: "Xưa kia nơi đây rừng rậm um tùm, không có dấu chân người qua lại. Chỉ độ gần hai chục năm trước, rừng rậm không còn thì mới có người bắt đầu tới vãn cảnh đẹp trong động.

Đến tháng 10/1995, người dân phát hiện thấy trên vách đá trước cửa động có một tấm bia đá. Qua khảo sát bước đầu cho thấy văn bia có tên là Động Linh Sơn, tên đại tự là "trùng tu Linh Sơn Động". Tháng 8/1996 Cục Bảo tồn, Bảo tàng (Bộ Văn hoá- Thể thao và Du lịch) đã cử các nhà khảo cổ học, Hán Nôm đến nghiên cứu, khảo sát và xác định bia đá trên vách núi có niên đại từ thời nhà Lê".

Những dấu tích trang trí, họa tiết còn lại đến ngày nay trên tấm bia đá khắc trên vách núi mang đậm phong cách nghệ thuật, phong cách trang trí thời Lê. Ấy là những họa tiết diềm bia hình hoa cúc dây được tạo khắc liên hoàn. Các nhà chuyên môn cho rằng, bia khắc trên vách đá này có niên đại vào cuối thời nhà Lê, khoảng năm 1775 (năm Ất Mùi).

Trên mặt bia khắc 200 chữ Hán, xung quanh trang trí hoa dây. Nội dung Bia ghi chép có ban chiếu của Ỷ Lan Linh Nhân Hoàng Thái Hậu (tức Nguyên phi Ỷ Lan), cho lập đền, chùa làm nơi danh lam thắng cảnh sau khi quân ta chống giặc Tống xâm lược.

Dù đã được công nhận là Di tích thắng cảnh cấp Quốc gia nhưng con đường vào động Linh Sơn vẫn lổn nhổn đá sỏi, vòng vèo dưới chân núi um tùm cây cối. Tấm bia cổ quý hiếm tạc trên vách đá xưa cũng chỉ được che chắn tạm bợ bởi vài viên ngói. Một quần thể động hoang sơ đẹp đẽ với những dấu tích lịch sử quý đang dần bị lãng quên và tàn phá.

Du lịch, GO! - Theo Bảo Vân – Gia Đình & Xã Hội

Thứ Năm, 20 tháng 6, 2013

Khám phá hang Dơi ở Đồng Nai

Gần đây, trên báo chí nước ngoài, các nhà thám hiểm người Đức đã công bố một kết quả khảo sát khiến nhiều người sửng sốt. Đó là họ đã tìm thấy cụm hang động dung nham trên địa bàn huyện Tân Phú gồm 11 hang rộng lớn đủ cho người bình thường đi lại, được hình thành bởi những dòng dung nham núi lửa phun trào cách đây hàng triệu năm ở vùng đất này.

Sau hơn 50 ngày thám hiểm, khảo sát quần thể hang động tại huyện Tân Phú và huyện Định Quán (Đồng Nai) các nhà khoa học thuộc Viện Sinh học Nhiệt đới Việt Nam và Hội Hang động Berlin của Cộng hoà Liên bang Đức đã phát hiện hang động có nguồn gốc dung nham do quá trình phun trào núi lửa tại khu vực huyện Tân Phú có chiều dài lớn nhất Đông Nam Á.

< Cửa một hang Dơi ở Tân Phú.

Cụ thể, có 11 hang dung nham, với tổng chiều dài 1,8km. Trong đó, hang động dài nhất nằm tại xã Phú Lộc huyện Tân Phú, mà người dân nơi đây vẫn thường gọi là hang Dơi. Hang Dơi được ngăn cách bởi sự sụp đổ, đứt gãy, tạo ra hai hang là hang Dơi 1 và hang Dơi 2. Giữa hai hang Dơi này có một đoạn khoảng 10 mét bị đứt gãy do đất đá chèn vào. Vì thế, nếu tính tổng cộng cả hai thì , hang dơi này có tổng chiều dài 534m và được coi là hang dung nham dài nhất khu vực Đông Nam Á bởi trước đó, hang dung nham dài nhất thuộc về hang Gua Lawah tại Indonesia có tổng chiều dài 400 mét.

< Ông Nguyễn Văn Lâm dẫn đường cho chúng tôi tìm đến những hang Dơi.

Từ thông tin hấp dẫn đó, chúng tôi đã làm một cuộc thám du đến vùng đất đỏ nằm ven vùng đệm của Vườn quốc gia Cát Tiên.

Biết nhưng chưa ai dám vào

Những ngày này, thời tiết vùng Đông Nam bộ nắng nóng rất gay gắt. Tuyến đường quốc lộ 20 đi Đà Lạt với lượng xe cộ đông đúc càng thêm oi bức, khó chịu. Khi chúng tôi tới địa bàn của thị trấn Tân Phú (huyện Tân Phú) hỏi đường đến hang Dơi ở đây thì nhiều người dân cũng tận tình chỉ cho biết.
Bác Nguyễn Văn Lâm, ngụ ở xã Phú Lợi (huyện Tân Phú) cho biết, trong khu rừng này có rất nhiều hang đá nằm rải rác với đặc điểm chung là từ xưa tới nay, nơi đây là địa điểm cư ngụ của hàng ngàn, vạn con dơi các loại.

Thỉnh thoảng cũng có một số người dân địa phương vào đó dùng lưới bắt dơi bán cho một số quán nhậu dưới Biên Hòa nhưng nhìn chung, ít ai dám vào đó… chơi vì cửa hang bé, nhìn vào sâu rất tối. Sau một hồi năn nỉ, cuối cùng lão nông hơn 60 tuổi có nụ cười khá thân thiện ấy cũng vui lòng dẫn chúng tôi xuyên qua những cây gỗ cao lớn với chằng chịt dây leo của khu rừng giá tỵ để tìm đến cửa hang dơi. Cây giá tỵ, còn gọi là “tếch” (tên khoa học là Tectona grandis, thuộc họ Verbenaceae).

Hang Dơi đầu tiên mà bác Lâm dẫn chúng tôi tới là một cái hang có cửa vào khá hẹp, chỉ đủ một thân người lách vào. Nếu muốn đi sâu vào bên trong thì phải có thêm một số dụng cụ hỗ trợ như bình thở khí oxy, mặt nạ, đèn chiếu sáng và dây thừng bởi ở đó rất tối, ẩm ướt lại đặc biệt khó thở khi có một lượng lớn phân, nước tiểu dơi thải qua nhiều năm tích tụ.

< Các hang động khác ở những vết đứt gãy của những quả đồi bằng đá xám, đá trắng khác thì tuyệt nhiên không có con dơi nào tìm đến.

Nói về điều này, ông Lâm cười bảo, “Tôi quê ở dưới Vũ Thư (Thái Bình) nhưng theo gia đình vào trong này từ trước năm 1975. Vì vậy, địa hình vùng rừng giá tỵ này tôi thuộc như lòng bàn tay. Ngoài một cửa hang Dơi ở đây, phía sau núi đá này còn ba hang Dơi nữa. Trên sườn núi cũng có một hang. Tuy nhiên, cũng như nhiều người dân trong vùng, họ đều biết đó là hang Dơi nhưng chưa ai dám vào vì mùi phân dơi rất khó chịu. Hơn nữa, cửa hang đa phần là nhỏ do mưa cuốn đất đá ở xung quanh chèn vào, nếu vào phải lách người rất khó khăn, có khi phải nằm bò trườn vào”.

Theo quan sát của chúng tôi, hang Dơi này nằm ở cách đường quốc lộ 20 khoảng 200 mét, là địa điểm thuộc vùng giáp ranh giữa huyện Định Quán và huyện Tân Phú và là 1 trong số 11 hang mà đoàn thám hiểm người Đức đã công bố. Mặc dù theo các tài liệu khảo sát, lòng hang rộng có nơi tới 10 mét, cao tới 4 mét nhưng cửa hang khá hẹp.

Trong gần một ngày trời tìm hiểu những hang dơi ở đây, ông Lâm dẫn chúng tôi tới tất cả 7 cửa hang. Có hang nằm ngay trên phần đất nương rẫy trồng chuối và trồng hồ tiêu của người dân trong vùng. Trong số đó, chỉ có duy nhất một cửa hang là có thể đi vào dễ dàng nhưng càng vào sâu, hang càng tối và có cảm giác nguy hiểm bởi nó ăn sâu trong lòng núi. Hang này khá rộng, hầu như không phải khom người mà đi bình thường nếu có đèn pin hay đèn măng-xông chiếu sáng.

Tuy nhiên, trong hang có nhiều dơi, nếu bật đèn chúng sẽ kinh động, bay loạn xạ và phát sóng siêu âm, có thể khiến người ta bị chóng mặt, ngất xỉu giữa chừng. Biết không phải là những người thám hiểm chuyên nghiệp có kinh nghiệm, ông Lâm bảo chúng tôi nên quay ra vì trong hang ngoài dơi còn một số loài động vật khác như nhện đen, chồn và ốc đá có thể gây nguy hiểm nữa.

Mặc dù chưa được đưa vào khai thác du lịch nhưng bằng cảm nhận khách quan, chúng tôi có thể thấy đây thực sự là một cảnh quan kỳ thú của thiên nhiên bởi những vòm hang này thông với nhau và có tổng chiều dài gần 2 cây số thì sẽ trở thành điểm thám du, dã ngoại thú vị cho giới trẻ nếu được chuẩn bị, khai thác hợp lý.

Nhiều bí ẩn xung quanh hang

Trong lúc ông Lâm dẫn chúng tôi đi thám hiểm những hang động dung nham ở đây, có một điều kỳ lạ mà chúng tôi nhận thấy là, dường như có một sự tương tác rất kỳ bí nào đó giữa loài dơi và những dung nham núi lửa đã nguội lạnh này. Theo đó, hầu hết những hang nằm trong núi, sườn núi hay sát mặt đất mà đàn dơi trú ngụ đều là những hang do dung nham tạo thành. Ngoài ra, các hang động khác ở những vết đứt gãy của những quả đồi bằng đá xám, đá trắng khác thì tuyệt nhiên không có con dơi nào tìm đến.

Hơn nữa, khi dơi tìm đến làm hang thì gần như chắc chắn đó là hang dung nham. Và, đây cũng chính là mấu chốt của việc những nhà khoa học người Đức đã tìm ra được quần thể hang động dung nham độc đáo này. Nói về điều này, một số người dân quanh vùng cũng cho biết, ngoài quần thể hang Dơi ở dưới khu rừng giá tỵ này, trong địa bàn tỉnh Đồng Nai còn có nhiều khu hang dơi nữa, cũng có hệ thống động khá đẹp nhưng cũng chưa được khám phá hết. Đó là những hang dơi nằm ở xã Vân Canh (huyện Định Quán) và hang dơi nằm ở xã Bàu Sen (thị xã Long Khánh). Và, gần như chắc chắn đó cũng là những hang dung nham nhưng chưa được khám phá hết.

Mặc dù không có được vẻ đẹp lỗng lẫy như những hang động được hình thành từ núi đá vôi ở Vườn quốc gia Phong Nha Kẻ Bàng nhưng với những gì đã được biết, quần thể hang động dung nham núi lửa độc đáo ở Tân Phú này cũng có thể làm mê đắm bất cứ ai muốn khám phá.

Trong lúc khảo sát trong lòng hang, chúng tôi có tận mắt chứng kiến những lớp đất đá được hình thành từ sự nguội đi của dung nham núi lửa thì thấy chúng có cấu tạo khác rất nhiều những lớp đất đá thông thường. Ngoài sự phản quang, những lớp đất đá dung nham cũng khá lạ kỳ dễ cuốn hút những ai muốn khám phá tìm tới.

Khám phá hang dung nham dài nhất ĐNÁ

Du lịch, GO! - Theo Đoàn Xá (Thesaigontimes.vn), internet

Thứ Ba, 18 tháng 6, 2013

Sâu thẳm điện Trời Gầm

Khoảng năm 1962-1967, điện Trời Gầm trên đỉnh Ô Tà Sóc (xã Lương Phi, huyện Tri Tôn) là nơi đặt cơ quan Văn phòng Tỉnh ủy An Giang. Dường như từ trước đến nay, chưa người dân nào khám phá hết lò ảng và độ sâu của khu vực này.

< Hang Trời Gầm.

Đường xuống mê cung

Mùa này, ở vùng Bảy Núi trời mưa rúc rắc, vườn tược xanh mướt. Từ dưới chân Ô Tà Sóc (khu vực núi Dài) men theo con đường bậc thang xuyên qua sườn, đồi, xung quanh triền núi hầu như người dân đều trồng xoài cát Hòa Lộc, một loại trái có tiếng ngon và cho huê lợi rất cao.

Gặp anh Lê Quang Sắt (43 tuổi) gánh xoài tuột dốc để cân cho thương lái, anh chỉ dẫn một cách cặn kẽ đường đến điện Trời Gầm. Chia tay, anh Sắt còn dặn: “Điện Trời Gầm sâu lắm phải có người dẫn đường thì đi mới được. Nếu đi một mình coi chừng bị kẹt lại dưới hang sâu…”.

Nghe anh Sắt cảnh báo, chúng tôi mới tìm một “thổ địa” trồng vườn gần đó. Thật may, chú Lê Văn Lía (ba Lía 53 tuổi) tình nguyện dẫn chúng tôi xuống điện Trời Gầm. Vừa bước vào miệng hang, không gian tối sầm, lạnh ngắt, chúng tôi tính bỏ cuộc thì ba Lía trấn an: “Lâu lâu mới đi một lần cho biết. Tôi trồng vườn và gánh mướn ở đây từ cha sanh mẹ đẻ đi xuống hang không biết bao nhiêu lần nhưng cũng chỉ đi được khoảng 50-60m là trở lại”.

Phía ngoài hang có một tảng đá lớn hơi nghiêng nằm chồng lên những phiến đá nhỏ. Cầm chiếc đèn pin mượn từ những chủ vườn gần đó, ba Lía rọi đèn, rồi lần mò dắt chúng tôi khám phá hang động. Bước xuống độ sâu khoảng 20m, nhìn lên phía trên là những tảng đá khổng lồ chồng chất lên nhau, trông như một mái nhà kiên cố. Dường như lâu lắm rồi chẳng có người xuống hang khám phá nên dọc theo các hốc đá có vô số dơi quạ, dơi sen trú ngụ. Thấy ánh đèn lướt qua, những con dơi bị đánh thức bay tán loạn.

Vào càng sâu trong hang, không khí càng lạnh và xuất hiện nhiều ngã rẽ. Mặc dù đã khám phá nhiều lần trong hang, nhưng ba Lía vẫn không tài nào nhớ hết đường đi nước bước trong hang. Thậm chí có những đoạn khó đến nỗi chúng tôi phải nghieng mình chen qua thì mới lọt, có nơi phải qua bằng cách trườn mình.

Đi sâu khoảng 60m, không gian im phăng phắc, chỉ cần tắt đèn thì chẳng thấy mọi vật xung quanh. Cố rọi đèn để tìm lối đi, chúng tôi lại thấy xuất hiện thêm 2 ngõ nữa, sợ đèn hết pin, ba Lía nói với tôi: “Lúc nãy phải chi đem sợi dây để làm dấu theo lối đi, khi lên không sợ lạc đường”.

Đi mãi đi mãi chẳng thấy đường cùng, tôi và ba Lía quyết định chon cách an toàn là leo lên, chịu thua độ sâu thăm thẳm và những điều kỳ bí dưới hang Trời Gầm.

Nơi lưu dấu bước chân các chiến sĩ năm xưa

Theo lời kể của ông Trần Chánh Phú (54 tuổi), người trồng vườn ở đồi Thanh Trong, ngày trước ông từng đánh liều đốt đèn cầy đi xuống điện Trời Gầm để tìm đồ quý dưới hang.

“Hồi đó, ông út Công nghe những bộ đội kể lại dưới hang sâu còn rất nhiều quân trang, quân dụng, phế liệu, thậm chí còn cả 2 thùng vàng. Thấy vậy, tôi mới đánh liều một phen xuống hang. Lúc đó, nghe nói đến vàng mình ham. Khi đi, tôi đâu dám cho vợ, con hay mà đợi lúc cả nhà đi chơi tôi mới đem đèn pin, đèn cầy, bánh tét, nước mang theo dự phòng lạc đường còn có lương thực để sống”, ông Phú nói.

Để không bị lạc đường, ông Phú mang theo bó dây dài trên 500m. Điểm đầu, ông buộc chặt vào một tảng đá phía trên, sau đó đi đến đâu là thả dây làm dấu đến đó. Khi nào bí đường thì ông trở lại tìm hang khác mà đi. Có hang xuống độ sâu khoảng 100m, với nhiều hốc rộng thênh thang, nước rỉ từ nhũ đá chảy róc rách mát rượi.

“Nhiều chỗ vẫn còn sót lại mũ, áo, quần của mấy ổng hồi trước (các chú bộ đội), mình đâu dám lấy. Có nơi còn rơi vãi cả vỏ đạn, nồi niêu, chảo… Hang sâu tối mịt, vàng đâu không thấy mà thấy lo cho tính mạng của mình. Nếu lỡ đi lạc ở dưới hang chừng 3 ngày mà không có lương thực và đèn thắp sáng thì coi như bỏ mạng nên tìm đường trở lên”.

Còn anh Võ Văn Nhứt, một chủ quán nằm dưới chân núi cho biết, những năm sau giải phóng, cũng nghe lời đồn đoán dưới điện Trời Gầm có nhiều của quý, nhiều người cũng hiếu kỳ đốt đèn cầy xuống hang tìm. Có đoàn mang theo lương thực đi nhiều ngày trong hang mà cũng chẳng tìm thấy gì cả chỉ thấy những đồ quân trang, quân dụng của bộ đội còn sót lại. Nhiều người đi xuống hang trở về đồn đoán ở dưới có nhiều điều kỳ bí.

Ngoài ra, ở khu vực điện Trời Gầm còn có các hang nổi tiếng thời kháng chiến chống Mỹ cứu nước, như: Hang Phụ Nữ, hang Quân Y, hang Hậu Cần… Thường khách đi đông nhất vào các ngày lễ lớn, ngày rằm. Đến đây, du khách sẽ thán phục trước sự hùng vĩ của thiên nhiên, với những khối đá khổng lồ chồng chất lên nhau, ăn thông nhau như một mê cung đá kỳ bí.

Thượng tá Lê Văn Thắng, Đội phó Đội K93 cho biết: “Trong chiến tranh chống Mỹ cứu nước, khu vực đồi Ma Thiên Lãnh- Ô Tà Sóc, Sư đoàn 1, Sư đoàn 4, Tỉnh ủy An Giang, Tỉnh đội cùng các bộ phận khác chọn làm nơi đóng quân. Cách đây 2 năm, Đội K93 có đi 30 ngày xuyên suốt tìm hài cốt liệt sĩ tại khu vực đồi Ma Thiên Lãnh, Ô Tà Sóc. Riêng điện Trời Gầm sâu thăm thẳm nên các chiến sĩ chỉ tìm hài cốt quanh quẩn gần đó và trở về chứ chưa khám phá được độ sâu của hang núi. Cũng nghe nhiều người lớn kể lại, dưới hang sâu có nhiều lò ảng rộng lớn. Thậm chí còn có cả một hồ lớn trồng toàn sen…”.

Du lịch, GO! - Theo Thành Chinh (An Giang Online), internet

Thứ Hai, 3 tháng 6, 2013

Chùa động Hang Son - Uông Bí

Di tích - Danh thắng động chùa Hang Son - Uông Bí nằm phía Tây xã Phương Nam, Thị xã Uông Bí tỉnh Quảng Ninh; Tây Bắc giáp Hồng Thái Tây (huyện Đông Triều), Tây Nam giám sông Đá Bạc, Đông giáp hai thôn Hồng Thái, Hồng Cẩm của xã Phương Nam.

Di tích - Danh thắng Hang Son nằm trong dãy núi Chu Cốc: có động Hang Son, Hang Ma, diện tích khoảng 800m², đi thẳng đường trong hang đến Chùa Thượng. Đây cũng là một hang đá tự nhiên thông với Hang Son ở độ cao 200m, so với mặt biển; có núi và Hang Xếp Bằng, diện tích khoảng 50m²; có núi Hang Hổ, diện tịch 200m²; có núi Dê, ở độ cao trên 500m so mặt nước biển, trên đỉnh núi Áng Tiên...

Trong hang động có nhiều nhũ đá với muôn hình vạn trạng kỳ thú; trên núi Chó nhiều cây lâu niên. Xung quanh các dãy núi có dòng sông Ma chạy vòng quanh. Đứng trên đỉnh núi nhìn xuống là dòng sông Đá Bạc chảy từ Tây sang Đông...

Tất cả đã tạo thành Cụm di tích lịch sử - văn hoá và Danh thắng Hang Son với phong cảnh sơn thuỷ hữu tình sánh ngang với thắng cảnh Chùa Hương - Động Hương tích (tỉnh Hà Tây) và Tam Cốc - Bích Động (tỉnh Ninh Bình). Văn bia trong Đền có đoạn ví "hiếm có nơi nào sánh được".

Dãy núi Chu Cốc có tên Núi Son, trong núi có hang Son và Đền Hang Son rất ling thiêng. Theo truyền thuyết kể lại, vào thời Trần hưng Đạo đã đưa quần về đây mai phục chuẩn bị cho trận đánh quân Nguyên - Mông trên dòng sông Bạch Đằng năm 1288. Trước trận đánh, Trần Hưng Đạo đã vào đền thắp hương khấn thần đền phù hộ và hứa rằng sau khi thắng giặc trở về sẽ làm lễ tạ ơn. Y lời, sau khi thắng giặc trở về Trần Hưng Đạo đã trở lại Hang Son làm lễ tạ ơn, tổ chức khao quân mừng chiến thắng, vẩy rượu lên vách hang, do dự phong hoá của thiên nhiên, vách hang có mầu nâu, từ đó có tên núi Hang Son.

Năm 1329, khi vua Trần Hiến Tông đi du ngoạn đến đây thấy hang đẹp đã cho khắc dòng chữ "Bão Phúc Nham"- (tức: động đẹp trên núi cao mang lại nhiều điều tốt lành). Từ đó, núi Hang Son lại có thêm tên nữa. Sau này, trong các bài văn thơ, bia ký của các triều đại Trần, Lê, Nguyễn đều họi là Bão Phúc Nham. Tuy nhiên, nhân dân vẫn thường quen gọi là núi Son và Hang Son.

Sách Đại Nam nhất thống chí có đoạn: "Núi Chu Cốc ở cách huyện Thuỷ Đường 13 dặm về phía bắc qua đây để vào địa phận Quảng Yên, tức là một dòng sông chảy về phía đông bắc qua đây để vào địa phận Quảng Yên, tức là dòng của sông Bạch Đằng ..."

Qua lời kể của các cụ già và nhân dân trong vùng, nơi đây vẫn lưu truyền thần tích về vị thần được thờ trong Đền Hang Son: Đó là một chàng trai khôi ngô tuấn tú và rất mực thông minh tên là Phạm Chấu. Đi theo học thầy đồ Hoàng Nhật Biến nổi tiếng uyên thông  thiên văn, ngũ kinh và văn chương. Vào vụ hạn hán mất mùa của người dân vùng này, chàng Phạm Chấu đã xem thiên văn, dùng phép thuật cầu mưa đưa nước từ sông vào đồng ruộng, đã quá mệt và hoá thân thành con cá chép trôi theo dòng sông Ma về động Hang Son. Để tưởng nhớ lại công lao của chàng trai, nhân dân địa phương và hai làng Quy Khê, Thuỷ Đường quyên góp và công đức lập đền thờ tại Hang Son và tôn là "Bát Hải Đại Vương".

Qua câu chuyện truyền thuyết trên, thực chất là quan niệm của người ngư dân vùng sông nước. Dây là vì thân hộ mệnh thiêng liêng trông coi 8 cửa biển với ý niệm (đất có thổ công, sông có hà bá), cũng là tín ngưỡng dân gian.
Nghiên cứu tự nhiên, điền dã thực địa Hang Son có từ thời Lý.

Bởi vì cuộc kháng chiến chông giặc Nguyên - Mông lần thứ 3 của Trần Hưng Đạo chọn dòng sông Bạch Đằng làm nơi quyết chiến quyết thắng thì núi Chu Cốc và các hang động trong núi là nơi dấu quân chuẩn bị lực lượng mai phục góp phần làm lên chiến thắng Bạch Đằng năm 1288.

Vào cuối thế kỷ XVI, Hang Son không những có ngôi đền Hang Son thờ Bát Hải Đại Vương mà còn lao nơi thờ phật. Bia đá khắc năm Giáp Tuất niên hiệu Sùng Khang thứ 7 (1572) có ghi rõ họ tên của người hưng công, công đức tiền của đẻ trùng tu phật điện, tạc tượng phật thờ (bia do Hạ Khuông Ngọc Tưan tự là Tiểu Bần Nạp Đạo Trí soạn và Siển Giáo Đạo Sơn chùa Trấn Quốc viết chữ). Cũng từ đó, hang Son có hai cung thờ: thờ Thần và thờ Phật. Đây cũng là sự kết hợp giữa tín ngưỡng dân gian và phật giáo của cư dân vùng sông nước nông nghiệp với đạo pháp "Sống tốt đời đẹp đạo".

Vào đầu thế kỷ XX, Hang Son trong núi Chu Cốc cũng được trùng tu tôn tạo lớn hơn. Văn bia đề ngày 14 tháng 4 năm Khải Định thứ 10 (1925) do Nguyễn Ngọc Nhuận soạn, Bùi Huy Bích cùng các ký dịch dựng: "trong núi có động, có thánh tượng (thờ Tổ tiên) truyền rằng Quỳ Khê ta thờ thánh đã lâu; (từ xưa có câu ngạn ngữ "Đền làng Khánh, Thánh làng Quỳ") cầu tất ứng, đảo tất thông tỏ rõ linh ứng...".

Đền Hang Son được xây dựng rất khang trang vào thời Nguyễn. Bia dựng năm Bảo Đại thứ 9 (1934) có ghi: "Năm Quý Hợi, thầy trò tôi đến nơi này tiến hành tu tạo; năm Giáp Tuất xây một toà; Năm Lỷ Tỵ sửa chữa một toà tượng Phật, một bộ cửa điện, một đôi câu đối; Năm Nhân Thân đúc một quả chuông".

Do thời gian quá lâu, điều kiện thiên nhiên khắc nhiệt; các cuộc chinh chiến dựng nước và giữ nước Đền Hang Son, cung thờ phật, tượng pháp, đồ thờ tự... bị thất lạc, các công trình xuống cấp và hư hỏng nghiêm trọng. Trong cuộc chiến tranh chống Mỹ, Hang Son là nơi sơ tán của Nhà máy ôxi Hải Phòng và Bệnh viên thị xã Uông Bí.

Hiện nay, Đền Hang Son và Chùa Hang Son chỉ còn lại 4 bia đá gồm: Ba chữ Hán khắc trên vòm hang "Bão Phúc Nhan" triều vua Trần Hiến Tông (1329); Bia khắc trên vách hang năm Sùng Khang thứ 7 (1572); Bia hưng công năm Bảo Đại  thứ 9 (1934); Bia "Lưu ký thạch bi" năm Bảo Đại thứ 10 (1935); Bia khắc song ngữ Việt - Pháp năm 1936. Tượng thờ gồm: tượng Đức Ông, tượng Trần Hưng Đạo, tượng Thánh Hang Son và Mẫu Thượng Thiên. Chùa Hang Son có 15 phu tượng Phật (bài trí từ trên xuống dưới, từ trong ra ngoài, từ phải qua trái), một đỉnh hương và một chuông đồng. Các hiện vật tượng pháp và đồ thờ tự có niên đại vào thời Lê, Mạc, Nguyễn, chất liệu chủ yếu bằng đất, gỗ, xi măng hầu hết được dân công đức và phục chế vào những năm gần đây (1987) để có nơi thờ tự và tưởng nhớ công đức các ngài.

Xuất phát từ truyền thuyết và thần tích dân gian vị Thánh Hang Son là người có công cứu dân làng qua khỏi hạn hán mất mùa sau đó hoá thân vào ngày 13/4 (âm lịch). Từ đó, hàng năm nhân dân địa phương và quanh vùng (có cả huyện Thuỷ Nguyên Hải Phòng) đều tổ chức Hội Đền Đức Thánh Hang Son trong hai ngày 13, 14/4 (âm lịch). Theo các cụ cao niên kể lại, Lễ hội Đền Đức Thánh Hang Son được nhân dân tôn sùng, ngưỡng mộ làm Thành hoàng của làng. Vào ngày mở hội, già trẻ gái trai náo nức chuẩn bị lễ vật (cỗ chay và cỗ mặn), áo mũ chỉnh tề, cờ dong trống dục xếp hàng rước lễ của làng, cả họ, của gia đình đến tế thần.

Trong điều kiện kinh tế phát triển, lãnh đạo, Ban quản lý Di tích và nhân dân địa phương đã vận dung Nghị quyết Trung ương X (khoá 9) của Đảng "Xây dựng và phát triển văn hoá Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc" đã đứng ra tổ chức Lễ hội trở thành ngày hội văn hoá của nhân dân địa phương. Tờ mờ sáng ngày 13/4 các thôn trong xã cùng nhân dân trong vùng đã tề tự đông đủ tại Bến đò Chợ cầu làm nghi thức rước lễ của làng ra Đền làm lễ tế. Lễ rước gồm: một con lợn to làm sạch, mổ bụng đặt lên bàn gỗ do bốn nam thanh niên khiêng; một mâm bánh dầy; ba mâm hoa quả, trầu cau, rượu, vàng hương... tất cả đoàn rước đi thuyền ra Đền.

Đi đầu đoàn rước là cờ hội, cờ ngũ sắc, trống lẹnh, bộ bát bửu, phường bát âm. đoàn tế, các mâm lễ các chức sắc, quan khách và nhân dân. Khi thuyền cặp bến, các mâm lễ được chuyển và Đền đặt lên ban thờ. ông chủ tế trong bộ trang phục áo dài ngũ thân, đầu đội khăn xếp cùng đội tế vào tư thế chuẩn bị nghi thức tế thần theo nghi lễ truyền thống. Sau khi thắp đèn, hương dâng lễ nghênh thần 4 lần dâng lễ và xướng tế chủ tế và đội tế quỳ bái trước bàn thờ. Cuối cùng đọc bài văn tế (văn khấn), xin âm dương rồi hoá vàng mã. Tiếp theo là các quan khách, cá nhân, dòng họ và du khách thập phương.

Sau khi làm nghi lễ tế thần xong, các mâm cỗ được để lại một phần cho chủ tế, đội tế và thủ từ thụ lộc tại Đền; phần còn lại chia đều cho các hộ mang về gia đình. Trong ngày hội trước kia còn tổ chức nhiều trò chơi dân gian, hát chầu văn, hát chèo cùng các hoạt động nghệ thuật quần chúng khác.

Căn cứ vào giá trị khu di tích lịch sử - văn hoá và Danh thắng Hang Son, ngày 27/2/1999, Uỷ ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh ra Quyết định số 413/QĐ-UBND công nhận Di tích lịch sử - văn hoá và Danh thắng  Hang Son là di tích cấp tỉnh. Cụm Di tích Hang Son có giá trị nhiều mặt về lịch sử - văn hoá, nghiên cứu khoa học, chiến lược quân sự, phát triển kinh tế xã hội và tham quan du lịch trong tương lai. Nơi đây có phong cảnh sơn thuỷ hữu tình: có núi có sông chạy quanh; có hang động và đền thờ. Trong tương lai cùng với Danh sơn Yên Tử, Hồ Yên Trung, Chùa Bí Thượng và Hang Son tạo thành tua du lịch sinh thái hấp dẫn du khách.

Du lịch, GO! - Tổng hợp theo Cổng Thông tin Điện tử TP Quảng Ninh, ảnh Lương Cao Dũng (Panoramio), internet

Đóng bè thám hiểm động rắn kinh dị (Kỳ 3)

(Tiếp theo) - Trong quá trình thám hiểm hang động, chúng tôi gặp nhiều nhất là những chú rắn to cỡ cổ tay, dài cỡ 2m, nhiều màu sắc.

Vào động rắn

Những ngày lang thang tìm hiểu ở “vương quốc” rắn rết dưới chân dãy Pha Luông (Xuân Nha, Mộc Châu, Sơn La), điều chúng tôi nhận thấy, là sự kính sợ của đồng bào với loài rắn. Người bản Thín bên cạnh còn dám bắt con trăn mò về trộm gà, lợn, để làm thịt, nấu cao, nhưng người bản Tưn thì tuyệt đối không bắt rắn, không giết hại rắn.
Ngay sát nhà ông trưởng bản Mùi Văn Ngọc, là nơi sinh sống của đại gia đình ông Mùi Văn Quân. Ông Quân là người Mường, gốc Hòa Bình, di cư lên đây từ 3 đời trước. Những kiêng kỵ với loài rắn gia đình ông không để tâm, nhưng riêng việc vào hang rắn thì vẫn không dám.


< Ông Quân bên miệng hang Tu Ngu.

Ông làm nghề buôn bán, từ buôn lợn, buôn gà, đến buôn trâu, đi lại ngang dọc trời đất, nhưng riêng với hang rắn Tu Ngu thì chỉ duy nhất một lần đi đến miệng hang lại quay trở ra.

Chuyện ông Quân vào động rắn Tu Ngu xảy ra cách nay đã 10 năm rồi. Đợt đó, nước suối cạn vì hạn hán lâu ngày. Miệng hang chỉ còn chút nước róc rách chảy. Bỗng nhiên, giông gió nổi lên, mưa như trút nước, lũ về ầm ầm. Lâu ngày không được đón nước, bầy cá màu mè xanh đỏ từ lòng núi bơi ra nhung nhúc, quẫy đạp ủng oảng. Ông Quân đem chài ra quăng, bắt được vô số. Tuy nhiên, mẻ chài tiếp theo, ông kéo lên lúc nhúc rắn, con nào con nấy bằng điếu cày. Hãi quá, ông bỏ lưới chạy tháo thân, không dám quay lại lấy bao cá nữa.


< Chặt bương đóng bè.

Nghe chúng tôi trình bày ý định vào hang Tu Ngu, ông Quân hào hứng lắm, nhưng vẫn e sợ. Sau khi chúng tôi thuyết phục, mời thêm mấy thanh niên bạo gan nữa, thì ông Quân đồng ý cùng vào hang thám hiểm. Riêng trưởng bản Ngọc thì nhất quyết từ chối, không dám dẫn chúng tôi vào hang rắn.

Vượt qua mấy rông núi, mấy vạt rừng, đến gần trưa, đoàn thám hiểm chúng tôi đặt chân đến miệng hang. Hang Tu Ngu nằm ngay dưới chân quả núi Pum Buốn. Minh, Quang, Vần, Hòa, Thành, là những thanh niên dũng cảm, gan dạ của bản, không sợ rắn trong động Tu Ngu. Có chúng tôi đi cùng, nên những thanh niên này cũng hào hứng, bạo dạn hẳn lên.


< Đóng bè.

Trên đường vào hang, ông Quân luôn miệng dặn dò chúng tôi phải giữ mồm, giữ miệng, không được ăn nói lung tung khi bước vào lãnh địa của rắn. Đứng ở miệng hang, nét mặt ông Quân có vẻ căng thẳng lắm. Ông rón rén từng bước, vạch từng bụi cỏ kẻo dẫm phải rắn, hoặc mạo phạm vào chỗ rắn ở.

Trong khi chúng tôi vạch từng bụi cỏ, tìm hiểu về rắn rết, thì nhóm thanh niên tiến vào rừng chặt bương, kéo ra chất đống ở miệng hang. Trong những hốc cây, bụi cỏ, hốc đá, kẽ đá, có vô số xác rắn to nhỏ, đã mục nát hoặc vẫn còn mới như thể con rắn vừa lột xong.

Đang vạch bụi cỏ, tôi chợt giật mình khi gặp cặp rắn đang phơi nắng. Thấy người lạ, chúng trốn vào bụi rậm. Ông Quân chạy đến xem và bảo đó là hổ trâu. Hổ trâu là loài bị giới bắt rắn săn lùng ráo riết. Chúng là loài rắn không có nọc độc, nên ông Quân không sợ.

Đứng ở miệng hang, nghe tiếng nước chảy ào ào, hơi nước từ trong hang phả ra mát rượi. Dọc con suối Lựp ngay cửa hang có rất nhiều cây to chắn ngang. Ông Quân vừa đi vừa ngó vào các hốc cây để tìm rắn mà tránh.


< Cảnh vượt suối ngầm trong hang bằng bè.

Miệng chính của hang Tu Ngu rộng bằng cả ngôi nhà. Nước từ con suối chảy vào động như thể con rồng há miệng hút nước. Mấy thanh niên bản Tưn đẽo gọt những cây bương, rồi dùng lạt buộc lại thành một chiếc bè. Chiếc bè ấy đủ sức tải vài người và chịu được va đập mạnh.

Người dân ở bản thường chỉ dám bắt cá ở miệng hang. Ai gan dạ vào trong hang thì cũng phải chờ mùa nước cạn, dòng suối Lựp ít nước, chảy nhẹ. Mùa lũ, nước chảy ồng ộc, cuốn văng mọi thứ vào hang. Những súc gỗ cũng mất hút trong bụng núi chứ nói gì đến con người và chiếc bè mong manh. Vào mùa khô, khí trời lạnh lẽo, bầy rắn trốn trong hang sâu, nên cũng ít nguy hiểm.


< Da rắn đã lột trong hang.

Chiếc bè bương được thả xuống miệng hang. Chiếc dây thừng được cột chặt vào bè. Cậu thanh niên tên Quang nhảy xuống bè, 4 thanh niên trên bờ giữ dây thừng. Dây thừng được thả ra chầm chậm, cho đến khi bè nứa trôi tuột vào trong hang. Quang ra hiệu, cả nhóm lại hò dô kéo bè ra khỏi hang. Qua thử nghiệm thấy rằng nước trong hang chảy không quá xiết, nên chúng tôi cũng nhảy xuống bè. Bè trôi vào lòng hang chầm chậm dưới sự điều khiển của Quang.

Càng đi sâu vào trong, lòng hang càng mở rộng. Nước cũng đỡ chảy xiết hơn. Tuy nhiên, chiếc bè bập bềnh khiến chúng tôi luôn phải cố hết sức mình bám vào bè cho khỏi rơi ra ngoài. Trong số 5 người đi, duy chỉ có ông Quân là có thể đứng vững bằng đôi chân của mình. Trái với việc đi trên cát mịn để khám phá hang trăn ở bản Thín, vào hang rắn Tu Ngu ai cũng cảm thấy hơi lo sợ.

< Một con rắn lạ trong hang.


Ngồi trên bè, chúng tôi cố gắng nhìn theo ánh đèn pin mà ông Quân chiếu vào. Thỉnh thoảng mới nhìn rõ được vài chú rắn với đủ các loại màu sắc, kích cỡ. Và cũng chỉ trong tích tắc, chúng đã trốn biệt. Lòng hang mở rộng, phía trên là vô số nhũ đá với đủ hình thù khác nhau. Trong các hốc đá đen ngòm, tối như hũ nút, thi thoảng có chú cá giật mình quẫy ủng oảng.

Đến giữa hang, chiếc bè đã trôi chậm hơn, chúng tôi mới cảm thấy đã được an toàn. Theo các cụ kể lại, hang động này dài khoảng 5km, có nhiều ngóc ngách, đỉ cả ngày không hết. Nếu cứ đi theo trục chính, thì sẽ xuyên qua dãy núi và đổ về dòng sông Mã thuộc tỉnh Thanh Hóa.

Nếu như ở hang Hằng, loài trăn nằm cuồn mình trên hõm đá, thì ở hang Tu Ngu, dù nhiều rắn song chúng rất nhát người. Hễ liếc đèn pin, soi vào chúng, lập tức chúng lẩn mất trong các hốc sâu. Chúng tôi phải thật nhanh tay, mới chụp được vài tấm hình, khi bọn rắn còn chưa kịp chạy tháo thân.

Trong quá trình thám hiểm hang động, chúng tôi gặp nhiều nhất là những chú rắn to cỡ cổ tay, dài cỡ 2m, nhiều màu sắc. Điểm dễ nhận biết nhất ở loài rắn này là có một đoạn thân màu đỏ dài cỡ gang tay ngay dưới cổ.

Hỏi ông Quân đây là loài rắn gì, ông Quân cũng lắc đầu không biết. Ông cũng không biết chúng là rắn độc hay rắn nước. Điều lạ là loài rắn này chỉ trú ngụ trong hang sâu. Chúng không bao giờ mò về bản, và cũng không rời xa quả núi này.

Sau một hồi đẩy bè trôi dọc dòng suối ngầm, chúng tôi dùng sào ra sức đẩy ngược bè ra khỏi hang. Còn vô số ngóc ngách, với những vách đá bí ẩn, nơi trú ngụ của nhiều loài rắn, song chúng tôi không tiếp tục khám phá được, vì không ai dám dẫn đi.
Động rắn Tu Ngu vẫn chìm trong bóng đêm bí ẩn. Nó cần đến bước chân quả cảm của những người ưa khám phá.

Hết
- Hang rắn, thánh địa của mãng xà (Kỳ 1)
- Động rắn dưới chân dãy Pha Luông (Kỳ 2)
- Đóng bè thám hiểm động rắn kinh dị (Kỳ 3)

Du lịch, GO! - Theo VTC News

 
Bếp từ, Bep tu, Bếp từ giá rẻ, Bếp từ hồng ngoại, Bếp từ đôi, Bếp điện từ, Bếp hồng ngoại, Bep hong ngoai