Kênh thông tin giải trí hàng đầu

Tin tức trong nước 24 giờ qua được cập nhật thường xuyên và nóng hổi

Cùng tim hiểu, khám phá những dang lam thắng cảng Việt

Những Danh lam thằng cảnh tuyệt đẹp, nơi sưu tầm những danh lam thắng cảnh đẹp nhât hiện nay

Những khu du lịch sinh thái đẹp nhất

Du lịch Việt, Những danh lam thắng cảnh đẹp nhất

Du lịch Biển đẹp

Tham gia những tuor du lịch tới mọi miền thế giới

Khám phá thiên Nhiên kì thú

Cùng tham gia khám phá những bí ẩn thiên nhiên kì thú

Hiển thị các bài đăng có nhãn Thắng cảnh tâm linh. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Thắng cảnh tâm linh. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 29 tháng 6, 2013

Chùa Bà Thiên Hậu Thánh Mẫu

Chùa Bà Thiên Hậu ở tỉnh Bình Dương là một công trình kiến trúc tín ngưỡng của bà con người Việt gốc Hoa. Ban đầu, chùa Bà được xây dựng bên bờ rạch Hương Chủ Hiếu vào giữa thế kỷ XIX; đến năm 1925, được dời về vị trí hiện nay. Chùa thờ Thiên Hậu thánh mẫu, Ngũ Hành nương nương, Bổn Đầu công, Thổ công…

< Cổng chùa Bà Thiên Hậu.

Theo truyền thuyết, vào đời Tống Thái Tổ, Kiến Long nguyên niên (960), tại huyện Bố Điền, phủ Hưng Hoá, tỉnh Phước Kiến, có người con gái thứ 6 của Lâm Nguyên, khi mới lọt lòng mẹ đã tỏa hào quang, hương thơm. Khi lớn, nàng có thể cưỡi chiếu, cưỡi mây hay sóng biển du ngoạn khắp nơi. Đến năm Tống Thái Tôn thứ 4 (987) cô gái ấy đã giã từ cõi trần ở tuổi 27.

Truyền thuyết dân gian cho rằng bà thường hiển linh, mặc đồ đen bay lượn trên biển. Đời nhà Nguyên, bà được phong Thiên Phi, đời Thanh, vua Khang sắc phong là Thiên Hậu.

< Hình tượng hoa văn trên mái.

Chùa Bà Thiên Hậu tọa lạc tại số 4 đường Nguyễn Du, thị xã Thủ Dầu Một. Cổng chùa được sơn một màu đỏ thẫm. Mái cổng lợp ngói âm dương, nóc có tượng song long tranh châu và cá chép. Bước qua cổng là một khoảng sân rộng, có đặt một đỉnh lớn đắp xi măng cho khách thập phương đốt nhang và một bể xi măng làm nơi đốt vàng mã.

< Mặt trước của chùa.

Mái chùa cũng được lợp ngói âm dương. Đỉnh nóc cũng có lưỡng long tranh châu, hình cá, tượng thần nhật, nguyệt và còn có tượng hai con kỳ lân đứng chầu hai bên. Bên trong chính điện khói nhang luôn mù mịt, dưới mái chùa được nâng bởi những hàng cột to, đen bóng.

Các hàng cột này đều có chạm khắc rất nhiều câu đối bằng chữ Hán. Trên trần nóc là vô số những quả cầu được treo lơ lửng, hai bên chánh điện là hai hàng binh khí, kéo dài cho đến Thiên Công Đàn phía trước.

< Bàn thờ Thiên Hậu Thánh Mẫu.

Quanh năm, gần như ngày nào cũng có khách thập phương đến viếng chùa Bà. Đặc biệt, vào ngày rằm tháng Giêng âm lịch hàng năm, trong dịp lễ hội chùa Bà diễn ra suốt hai ngày 14 và ngày 15, hàng vạn lượt người đến từ khắp cả nước kéo về chợ Thủ cúng bái, vay tiền làm ăn, trả lễ tiền vay trước và rước hương lộc về nhà.

Lễ cúng Bà được tiến hành vào lúc nửa đêm 14 rạng ngày 15. Vị chánh tế chủ trì buổi lễ do bốn bang người Hoa ở thị xã Thủ Dầu Một cử ra theo thể thức luân phiên từng năm. Ngôi chùa được trang hoàng rợp cờ đầy màu sắc, và lồng đèn rực rỡ từ cửa tam quan vào đến điện thờ.

Mười hai chiếc lồng đèn lớn, trang trí đẹp mắt, tượng trưng cho mười hai tháng trong năm, treo thành một hàng dài trước sân chùa, làm cho quang cảnh ngày hội thêm lộng lẫy. Khoảng sân của chùa rộng đến 600m¬2, vậy mà trong ngày lễ hội trở nên chật chội, vì luôn có đến hàng ngàn, hàng vạn lượt người chen lấn nhau để vào cho được đốt nhang lễ Bà. Người ta phải đặt bốn chiếc lư hương lớn bằng xi măng cẩn sứ ở giữa sân chùa để cho khách hành hương cắm nhang, giải tỏa phần nào khói hương dày đặc làm cay chảy nước mắt mọi người ở trong chính điện.

Ngoài lễ hội chùa Bà vào ngày rằm tháng Giêng, Ban tổ chức còn tổ chức lễ vía Bà rất linh đình vào ngày 23 tháng 3 âm lịch. Số người hành hương rất đông, chỉ kém lễ vía Bà Chúa Xứ ở núi Sam (tỉnh An Giang) và lễ hội Bà Đen (tỉnh Tây Ninh).

< Chùa Bà Thiên Hậu Thánh Mẫu tại TP mới Bình Dương.

Để đáp ứng nguyện vọng tín ngưỡng của nhân dân coi lễ hội chùa Bà là một nét đẹp văn hóa của dân tộc, Tổng Công ty Becamex cùng với Bốn bang người Hoa đã xây dựng thêm công trình chùa Bà Thiên Hậu tại TP mới Bình Dương với quy mô lớn gấp 3 lần.

Chùa Bà Thiên Hậu thánh mẫu tại thành phố mới Bình Dương tọa lạc tại Lô K6A Đường Lê Hoàn, phường Hòa Phú, trung tâm thành phố mới Bình Dương với diện tích hơn 4.000m².

Được xây dựng theo lối kiến trúc Trung Hoa, kinh phí đầu tư xây dựng hơn 30 tỷ đồng, khuôn viên chánh rộng hơn 1.000 m2. Được xem là Miếu Thờ Thiên Hậu Thánh Mẫu lớn nhất Việt Nam thời điểm hiện nay. Tượng Thiên Hậu Thánh Mẫu được tạc từ khối gỗ Danh Mộc đường kính 1m00 chiều cao 1,67 nặng gần 1 tấn.

Chùa được tổ chức đại lễ động thổ vào ngày 11/02/2011 và được chính thức khởi công xây dựng vào ngày 17/09/2011. Sau 15 tháng xây dựng Chùa tổ chức khánh thành vào ngày 19/01/2013. Chùa được quản lý và điều hành trực tiếp bởi Ban trị sự Chùa Bà Thiên Hậu thành phố Thủ Dầu Một, Bình Dương.
Chùa Bà Thiên Hậu tại TP.mới Bình Dương đi vào hoạt động sẽ là điểm đến thú vị cho khách hành hương gần xa.

Du lịch, GO! - Tổng hợp từ Địa ốc Phố Rồng, báo Tin Tức... và nhiều nguồn khác

Thứ Tư, 26 tháng 6, 2013

Nơi tọa lạc nhiều chùa nhất Việt Nam

Thôn Phú An được mệnh danh là "xóm chùa", "làng chùa Đại Ninh" từ bao năm nay. Vùng đất này chính là nơi tập trung nhiều cơ sở thờ tự nhất trong cả nước, bởi chỉ trong một thôn mà có tới 72 cơ sở thờ tự lớn nhỏ.
Chỉ cần đi dọc theo quốc lộ 20 đoạn qua thôn Phú An, xã Phú Hội sẽ thấy thấp thoáng những mái chùa cong cong, những bức tượng Phật vươn lên nền trời xanh thẳm và mùi hương trầm phảng phất khắp nơi.

Đến thế giới của chùa cổ

Thôn Phú An (xã Phú Hội, huyện Đức Trọng, Lâm Đồng) vốn là vùng đồi núi hoang sơ trên cao nguyên Đức Trọng, nằm dọc phía hữu ngạn sông Đa Nhim, gần cầu Đại Ninh, cách TP. Đà Lạt khoảng 40 cây số.

Chúng tôi tới thăm làng chùa Phú An vào một buổi chiều muộn cuối năm. Con đường lên chùa Pháp Vân ngày càng dốc đứng, hai bên đường chỉ thấy sỏi đá và những rặng cây già. Tọa lạc trên một ngọn đồi, chùa có diện tích khá rộng, nhìn xuống là làng chùa Phú An chìm trong nắng chiều.

< Một trong những ngôi chùa ở Phú An.

Theo sự chỉ dẫn của người dân, từ ngã ba chùa, chúng tôi đi vào sâu trong xóm, cứ cách vài căn nhà lại thấy một ngôi chùa, tự viện, tịnh xá, niệm phật đường, am thất… của các tu sĩ Phật giáo, mang màu sắc cổ kính cũng có, hiện đại cũng có, đan xen hòa quyện vào nhau. Trên các triền đồi, dọc theo dòng sông Đa Nhim, tiếng chuông chùa, tiếng tụng kinh, gõ mõ văng vẳng bay lên trong cái không khí thanh bình, yên ả của một làng quê. Ngôi chùa nổi tiếng nhất tại đây là Vĩnh Minh Tự Viện. Dù không phải là ngôi chùa được thành lập sớm nhất tại Phú An nhưng đây là một tự viện có quy mô lớn, với một kiến trúc đẹp, hài hòa. Hàng năm, nơi đây đều tổ chức những trại hè sinh hoạt Phật pháp cho các thanh thiếu niên phật tử, những đêm hội hoa đăng, rồi lễ Phật đản,… thu hút đông đảo phật tử và du khách thập phương.

Chùa Hương Nghiêm được coi là "Tổ đình" của xứ làng chùa, với tháp mộ ba tầng. Phương Liên Tịnh xứ với tháp bảy tầng đồ sộ, toạ lạc trên ngọn đồi cao. Theo số liệu thống kê của Ban tôn giáo huyện Đức Trọng năm 2012, Phú An có tới chín ngôi chùa được coi là nơi thờ tự hợp pháp và hàng chục các cơ sở thờ tự nhỏ khác như tịnh xá, tịnh viện, ni viện… cùng không biết bao nhiêu cơ sở thờ tự của những người tu chưa được công nhận hợp pháp. Bóng áo nâu, áo màu lam của người tu hành thấp thoáng trên các con đường nhỏ trong thôn.

< Cổng chùa Dược Sư.

Có lẽ, hiếm có nơi nào lại có duyên với miền đất Phật như đất Phú An. Số liệu thống kê mà xã Phú Hội cung cấp cho thấy, toàn xã có 221 chức sắc và tăng ni, thì riêng thôn Phú An đã có tới 220 vị. Tuy nhiên, không phải ngẫu nhiên mà Phú An lại thu hút nhiều chư tăng tới lập chùa, am thất tu hành như vậy. Làng chùa được hình thành suốt hơn sáu thập niên qua với một địa thế khá hấp dẫn khi vừa có sông, vừa có núi đồi, cây cối bao bọc xung quanh, như một miền "đất lành" cho những chiếc áo nâu sòng sớm tối cầu kinh niệm Phật.

Miền đất lành cho những bước đường tu

Trên đường vào thôn, ngang qua tịnh xá, chúng tôi gặp một ni cô đang dọn cỏ phía ngoài bờ tường bao. Ni cô đi tu đã mấy chục năm nay rồi, không vì lý do riêng tư cá nhân nào cả, chỉ bỗng nhiên thấy "chán" sự đời nên lên chùa cắt tóc đi tu. Theo ni cô này, ở đây không khí trong lành mát mẻ, lại yên tĩnh, người dân hiền hòa nên nhiều người muốn về đây lập am thất tu hành.


< Phương Liên Tịnh Xứ.

Theo số liệu thống kê các cơ sở thờ tự hợp pháp của Ban tôn giáo huyện Đức Trọng thì ngôi chùa được thành lập sớm nhất tại Phú An, Phú Hội là chùa Phú Hội (năm 1939). Trong khoảng 20 năm sau đó, không có một cơ sở thờ tự nào mới được thành lập. Mãi cho đến những năm 60 của thế kỷ trước trở đi, hàng loạt các ngôi chùa, tịnh xá, tịnh viện khác ra đời. Cũng tại Vĩnh Minh Tự Viện, vị trụ trì Thích Nguyên Hiền đã cho chúng tôi hiểu phần nào về quá trình hình thành làng chùa Phú An này.

Những năm đầu thập niên 1960, các hòa thượng Bửu Lại, Bửu Huệ và Thích Thiền Tâm đã tìm đến núi rừng hoang vu bên bờ sông Đa Nhim này khai sơn, dựng thạch thất để yên tĩnh tu hành. Sau đó, hòa thượng Thích Thiền Tâm cho xây dựng tu viện và chùa Hương Nghiêm (ngôi chùa có quy mô đầu tiên ở vùng đất này, bây giờ được gọi là Tổ đình).

Còn người khai sơn Vĩnh Minh Tự Viện là hòa thượng Thích Tâm Thanh. Hòa thượng vốn xuất thân từ khóa Cao đẳng Phật học Huệ Nghiêm. Năm 1971, sau khi học xong đại học Vạn Hạnh và đang là Giảng sư Viện Hóa Đạo tại Sài Gòn, hòa thượng đã lên vùng núi rừng Đại Ninh cất một thảo am để tịnh tu sau những công tác Phật sự bề bộn tại Sài Gòn. Nhân duyên hội đủ, hòa thượng được một phật tử cúng dàng mảnh đất, mà thực chất là một ngọn đồi. Năm 1973, thảo am biến thành thạch thất, một cốc đá vuông vức 4m2 với mái lá đơn sơ và bốn bề rừng rú, nơi lưu trú của vô số khỉ vượn, heo rừng, sóc nhím và chim chóc.

< Tu viện Vĩnh Minh.

Năm 1983, tăng chúng theo học tại thạch thất ngày càng đông đảo, để đáp ứng nhu cầu tu học của tăng ni và phật tử, hòa thượng cho xây dựng ngôi chánh điện chỉ rộng 30m2, nép mình dưới tán cây cổ thụ. Năm 1985, tịnh thất Chơn Nghiêm được đổi thành Vĩnh Minh Tự Viện với đầy đủ tiền đường, hậu tẩm và cả hai lầu chuông trống. Đó là giai đoạn cực kỳ khó khăn, khi mà con đường dẫn vào Vĩnh Minh Tự Viện chỉ là một lối mòn giữa hai bờ lau cỏ, xi măng phải mua từng ký, cát gạch phải vác từng bao từ dưới triền đồi lên đỉnh dốc. Thế mà, ngôi tự viện vừa mới hoàn thành, trở thành nơi hành hương của người dân xa gần về chiêm bái.

Theo các phật tử, từ khi Vĩnh Minh Tự Viện hình thành, cùng với tài thuyết giảng kiệt xuất của hòa thượng Tâm Thanh (nguyên Phó ban trị sự kiêm Trưởng ban Hoằng pháp Giáo hội Phật giáo tỉnh Lâm Đồng), nơi đây đã trở thành điểm tựa tinh thần cho dân chúng khắp các làng quê quanh vùng. Tiếng lành đồn xa, không chỉ tăng ni, phật tử trong huyện Đức Trọng mà cả tăng ni, phật tử nhiều tỉnh thành khác cũng lặn lội lên vùng đồi núi Phú An để được nghe thuyết giảng và thọ giáo quy y. Từ đó, người tứ xứ về đây ngụ cư, lập tịnh thất, tịnh xá để tu hành.

Ông Trần Bảo Anh Quân (Phó chủ tịch UBND xã Phú Hội) cho biết: "Trước năm 1975, vùng núi đồi Phú An còn rất hoang sơ, dân cư thưa thớt, chỉ có vài ba ngôi chùa, thạch thất ẩn mình sau rặng rừng già. Càng về sau dân tứ xứ kéo nhau về đây định cư, lập nghiệp tạo thành khu dân cư đông đúc với những mảnh vườn trồng cà phê, rau màu phủ lên nơi đây một màu xanh trù phú. Nhiều phật tử quy y tìm đến, chọn nơi đây làm chốn tu hành, thanh tịnh, xa lánh cõi hồng trần. Từ đó, Phú An được mệnh danh là vùng "đất lành" với chùa chiền, tịnh thất được thành lập ngày càng nhiều".

< Nét độc đáo của làng Phú An với nhiều ngôi chùa.

Cũng theo ông Trần Bảo Anh Quân, Phú An là vùng đất không có tệ nạn xã hội, an ninh trật tự luôn bảo đảm, ít ồn áo huyên náo. Các tăng ni về đây lập nghiệp, tu hành đều tự lao động sản xuất, trồng cà phê, cây ăn trái để nuôi sống bản thân. Chùa chiền ở Phú An cũng là những cơ sở kết hợp với chính quyền địa phương, tham gia nhiều hoạt động từ thiện như khám bệnh, phát thuốc miễn phí cho người dân trong vùng, vận động quyên góp các nhà hảo tâm xa gần để làm đường, xây dựng cầu treo cho người dân qua sông…

Trung bình, cứ 24 khẩu thì có một cơ sở thờ tự

Ông Trần Bảo Anh Quân, phó chủ tịch UBND xã Phú Hội cho biết theo báo cáo của UBND xã năm 2011, trên toàn xã có 76 cơ sở thờ tự, thì thôn Phú An có tới 72 cơ sở được công nhận và chưa được công nhận, gồm: Chùa, tịnh xá, tịnh thất, niệm phật đường, ni viện, tịnh viện, tự viện và thiền viện… Với số nhân khẩu của thôn Phú An là 1807, thì tính trung bình cứ 24 người sẽ có một cơ sở thờ tự. Nơi đây có thể được xem là địa phương quy tụ nhiều chùa chiền nhất Việt Nam hiện nay.

Du lịch, GO! - Theo Người Đưa Tin, internet

Thứ Bảy, 22 tháng 6, 2013

Huyền bí động Linh Sơn ở Thái Nguyên

Con đường âm phủ xuyên trong bóng tối âm u. Đáy hang chưa từng có bước chân người tới, ném đá không nghe tiếng chạm đất vọng lại.

Từ "đường âm phủ" kỳ bí…

< Lối vào động Linh Sơn.

Nằm giữa vùng đồi núi hoang vu, quanh năm mát mẻ, động Âm phủ nằm trong quần thể hang động Linh Sơn (Thái Nguyên), là nơi trước đây Nguyên phi Ỷ Lan từng ban chiếu lập đền. Con đường âm phủ xuyên trong bóng tối âm u. Đáy hang chưa từng có bước chân người tới, ném đá không nghe tiếng chạm đất vọng lại, càng khiến nơi đây nhuốm màu huyền bí.

< Hang địa với "đường âm phủ" sâu hun hút.

Hang Âm phủ hay còn gọi là hang Địa nằm trong quần thể hang động Linh Sơn, vốn là một trong những danh lam thắng cảnh đẹp của nước ta, được nhiều du khách biết đến.

Động Linh Sơn thuộc xóm Núi Hột, xã Linh Sơn, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên, cách thị trấn Chùa Hang, huyện Đồng Hỷ 3km về phía Đông Nam. Quần thể động nằm trong Núi Hột, ngọn núi đá vôi chơ vơ bên dòng sông Linh Nham, tách hẳn các bản làng, khu dân cư của huyện Đồng Hỷ. Động nằm sát chính giữa chân Núi Hột gồm hai hang đá tự nhiên ăn sâu vào lòng núi. Diện tích hai hang rộng khoảng gần 1.000m². Cả hai hang đều chung một cửa chính rộng 5m.

Rẽ trái vào hang Thiên, nền hang bằng phẳng và có các bậc lên như bậc tam cấp. Hang Thiên rộng chừng hơn 360 m2. Tại đây có bệ thờ Phật bằng đá tạo thành những chùm san hô, hình voi chầu, hổ phục, kì lân, sư tử... cùng những cảnh đẹp cuốn hút lòng người như động Thuỷ Tiên và đặc biệt là đôi rồng vờn mây uốn lượn trong một thế giới huyền ảo của nhũ đá thiên nhiên. Cuối hang Thiên về phía tây có đường đi lên đỉnh Núi Hột.

Đứng từ đỉnh Núi Hột có thể quan sát được toàn bộ trung tâm xã Linh Sơn với cảnh quan đẹp đẽ, nên thơ. Rẽ phải đi sâu xuống vài chục mét là đến hang Địa, có đường thông lên hang Thiên và nhiều đường đi sâu vào lòng núi tối hun hút. Hang Địa có diện tích rộng hơn hang Thiên, khoảng hơn 480 m2 sâu và thấp hơn hang Thiên vài chục mét. Nền hang khá bằng phẳng, rộng rãi, thấp dần tạo thành những chiếu nghỉ rộng lớn.

Nơi đây không gian yên tĩnh, thiên nhiên huyền ảo với nhiều hình tượng đẹp được tạo thành bởi nhũ đá như hình bút tháp, mẹ bồng con... Xưa kia nhân dân đã từng dùng động làm chỗ thờ Phật. Trong động hiện vẫn còn pho tượng Phật Thích Ca bằng đồng cổ xưa, một số tượng phủ sơn son thiếp vàng và vố số tượng đá tự nhiên trên các bề mặt đá. Nơi đây không gian tĩnh tại, thiên nhiên huyền ảo với vô vàn những hình tượng đẹp được tạo thành sau hàng nghìn năm.

Nơi đây xưa kia còn được gọi bằng cái tên hang Dơi khi quanh năm suốt tháng, hàng ngàn con dơi đậu kín trần hang, người yếu bóng vía mà vào hang tối sẽ phát hoảng khi nghe tiếng dơi kêu lít chít trên đầu.

Cụ Phạm Thị Hấn, dân gốc bản Linh Sơn xưa, năm nay đã gần 80 tuổi kể: "Hàng tháng rất đông du khách đến đây vãn cảnh núi non, hang động nhưng hàng chục năm ở đây trông coi hang, tôi chưa từng thấy ai dám đi sâu xuống phía dưới hang địa. Người ta kháo nhau là đường xuống âm phủ, nơi đó lại rất tối, đèn pin dù sáng đến mấy cũng chỉ lờ mờ không nhìn rõ mặt người, nên chẳng ai dám xuống. Cũng không ai biết dưới đó có những gì".

Đến tấm bia cổ trên vách núi

< Cụ bà Phạm Thị Hấn trông coi động từ khi nơi đây còn bị bao phủ bởi rừng cây.

Những lời đồn về sự linh thiêng, bí ẩn của khu động càng thêm huyền bí khi truyền thuyết xưa chép lại trận đánh từ thời nhà Lý, các tướng lĩnh và binh lính lấy hang Linh Sơn làm nơi trú chân, trữ lương thực cầm quân đánh giặc ngoại sâm. Nhưng sau đó, hàng trăm tướng lĩnh và binh lính đã tử trận dưới gươm đao quân Tống.

Truyền thuyết còn kể về những linh hồn binh sĩ tử trận lang thang nơi vùng núi Linh Sơn, cho đến khi Nguyên phi Ỷ Lan trong một lần kinh lý tới đây đã cảm động mà ban chiếu cho lập đền thờ các binh sĩ tử trận.

< Thạch nhũ tự nhiên giống hình con voi.

Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, động là nơi đóng quân, để kho tàng của một số cơ quan đơn vị bộ đội của tỉnh, liên khu phục vụ kháng chiến. Đây cũng là nơi Bệnh viện Đa Khoa Bắc Thái (cũ) sơ tán vào làm việc, tránh bom B52 giải thảm của Mỹ. Quần thể động Linh Sơn rất xứng đáng được được bảo vệ.

Từ bấy đến nay, hàng năm cứ vào ngày mùng 8 tháng giêng sau Tết Nguyên Đán, nơi đây lại tổ chức lễ hội Động Linh Sơn, như một phần nghi lễ tưởng niệm binh sĩ tử trận năm xưa. Du khách nườm nượp đổ về đây vừa để cầu mong một điều tốt lành, vừa để đắm mình trong khung cảnh thần tiên của Động Linh Sơn và chiêm ngưỡng những dấu tích từ hàng trăm năm trước còn sót lại.


< Bia khắc trên vách đá được che sơ sài.

Trên vách núi Linh Sơn ngày nay vẫn còn nguyên vẹn dấu tích của văn bia cổ khắc từ hàng trăm năm trước. Cụ Nguyễn Văn Lợi (Linh Sơn, Đồng Hỷ) cho biết: "Xưa kia nơi đây rừng rậm um tùm, không có dấu chân người qua lại. Chỉ độ gần hai chục năm trước, rừng rậm không còn thì mới có người bắt đầu tới vãn cảnh đẹp trong động.

Đến tháng 10/1995, người dân phát hiện thấy trên vách đá trước cửa động có một tấm bia đá. Qua khảo sát bước đầu cho thấy văn bia có tên là Động Linh Sơn, tên đại tự là "trùng tu Linh Sơn Động". Tháng 8/1996 Cục Bảo tồn, Bảo tàng (Bộ Văn hoá- Thể thao và Du lịch) đã cử các nhà khảo cổ học, Hán Nôm đến nghiên cứu, khảo sát và xác định bia đá trên vách núi có niên đại từ thời nhà Lê".

Những dấu tích trang trí, họa tiết còn lại đến ngày nay trên tấm bia đá khắc trên vách núi mang đậm phong cách nghệ thuật, phong cách trang trí thời Lê. Ấy là những họa tiết diềm bia hình hoa cúc dây được tạo khắc liên hoàn. Các nhà chuyên môn cho rằng, bia khắc trên vách đá này có niên đại vào cuối thời nhà Lê, khoảng năm 1775 (năm Ất Mùi).

Trên mặt bia khắc 200 chữ Hán, xung quanh trang trí hoa dây. Nội dung Bia ghi chép có ban chiếu của Ỷ Lan Linh Nhân Hoàng Thái Hậu (tức Nguyên phi Ỷ Lan), cho lập đền, chùa làm nơi danh lam thắng cảnh sau khi quân ta chống giặc Tống xâm lược.

Dù đã được công nhận là Di tích thắng cảnh cấp Quốc gia nhưng con đường vào động Linh Sơn vẫn lổn nhổn đá sỏi, vòng vèo dưới chân núi um tùm cây cối. Tấm bia cổ quý hiếm tạc trên vách đá xưa cũng chỉ được che chắn tạm bợ bởi vài viên ngói. Một quần thể động hoang sơ đẹp đẽ với những dấu tích lịch sử quý đang dần bị lãng quên và tàn phá.

Du lịch, GO! - Theo Bảo Vân – Gia Đình & Xã Hội

Thứ Bảy, 15 tháng 6, 2013

Tháp cổ ngàn năm ở Tây Nghệ An

Thật không ngờ, ở xã biên giới như Mỹ Lý lại có được quần thể tháp tuyệt đẹp và linh thiêng này. Ba trong bốn tháp Phật cổ hàng nghìn năm tuổi ở bản Yên Hoà xã Mỹ Lý (Kỳ Sơn, Nghệ An) sụp đổ, còn lại duy nhất một bảo tháp là tuyệt tác của kiến trúc Phật giáo xưa.

Vượt Nậm Nơn ngắm tháp cổ

Tháp Phật cổ ở bản Yên Hoà vốn chứa đựng bí mật cả nghìn năm nay, cũng là bảo tháp linh thiêng đối với bà con dân tộc Thái ở xã biên giới Mỹ Lý. Được sự bật mí của một cán bộ huyện Kỳ Sơn, chúng tôi xuất phát từ thị trấn Mường Xén theo đường núi đến xã Mỹ Lý.

Xã Mỹ Lý cách thị trấn Mường Xén chỉ trên 50 cây số, nhưng là một trong những xã biên giới khó khăn nhất. Anh Lô Văn Thắng, cán bộ văn phòng xã Mỹ Lý dẫn chúng tôi ra bờ sông Nậm Nơn xuôi dòng trên một chiếc thuyền độc mộc. Mất chừng 30 phút đi thuyền, chúng tôi mới cập bản Yên Hoà.

Tháp cổ hiện ra trước sự ngỡ ngàng. Tháp cao trên 30m, rất cổ kính và uy nghi. Người ngoài vào bản, không ai có thể bỏ qua ngôi bảo tháp kỳ lạ với lối kiến trúc cổ xưa rất khó gặp ở Việt Nam. Anh Lô Văn Liệu, Phó Chủ tịch UBND xã Mỹ Lý cho hay: "Vì trăn trở bảo tháp cổ này mà tôi đã đi tìm gia phả nguồn gốc và được một số thầy tu ở bên Lào cho biết, tháp xây từ những năm 1008".

Theo quan sát của chúng tôi, tháp cổ được xây dựng bằng gạch đặc trộn mật. Tháp cao, chân tháp lớn và nhỏ dần theo từng tầng, phía trên cùng nhọn hoắt. Trên mỗi tầng tháp đều có những hoa văn lạ, có hình Phật chắp tay. Tất cả những hoa văn lẫn thiết kế đều rất tỉ mỉ.

Anh Liệu cho hay: "Hồi còn nhỏ tôi đã hỏi các cụ về ngôi tháp nhưng không một ai biết nguồn gốc, cũng không ai có thông tin gì về tháp cổ này. Chỉ biết rằng, tháp cổ như một "cột mốc" trấn giữ vùng biên và là nơi thờ tự hương nến vào ngày mùng 1 và ngày rằm hằng tháng".

Ở cạnh tháp cổ có một cây bồ đề khá lớn, nhưng theo người dân địa phương, cây bồ đề này chỉ là "cây con" sau khi "cây mẹ" bị chết khoảng 100 năm trước. Dưới gốc bồ đề, người ta xây một bàn thờ nhỏ có tượng Phật và một bát hương để thờ tự.

Tưởng tháp cổ đơn thuần chỉ là một ngôi tháp cũ kỹ rêu phong, nhưng với người bản địa thì đó là "linh hồn" của bản Yên Hoà. Tháp cổ trở thành tháp thiêng từ bao đời nay, khi người dân bị hạn hán cũng đến thắp hương cầu mưa. Bị bệnh dịch cũng đến thắp hương xin an lành. Anh Liệu khẳng định: "Vì sự linh ứng lạ lùng khi già làng trưởng bản thờ khấn xin điều dân làng muốn nên tháp trở thành vị thần bảo vệ người dân".

Nhưng thật buồn, một ngày cách đây không xa bảo tháp bị những kẻ tham lam xâm hại. Anh Lô Văn Liệu, Phó Chủ tịch UBND xã buồn bã nói: "Kẻ xấu đã đục thủng tháp để vào bên trong đánh cắp cổ vật. Bọn chúng đều biết rằng, tháp cổ nào có hoa văn tức là đều có tượng Phật cổ bên trong nên chúng đã nhằm những nơi có hoa văn để đục. Tháp có đến hơn 20 lỗ bị đục tính từ chân đến ngọn tháp".

Vì sợ tượng Phật bị mất và cũng lo lắng người trong bản nổi tính tham nên chính quyền xã Mỹ Lý đã cho đem 3 pho tượng Phật cổ cất vào một nơi bí mật và cử người trông coi cẩn thận.

Nguy cơ tháp sập

Ông Lô Văn Liệu, Phó Chủ tịch UBND xã Mỹ Lý lo lắng: "Tháp cổ bây giờ đã lung lay lắm rồi, bọn trộm đục khoét làm hỏng cả chân tháp, chỉ cần một trận lũ quét nhẹ hay một cơn mưa lớn thì tháp sẽ sập. Cổ tháp nghìn năm tuổi chắc chắn sẽ bị xoá sổ khỏi đất Kỳ Sơn này".

Theo ông Liệu, trước đây Mỹ Lý không chỉ có một bảo tháp như hiện tại, mà có đến 3 tháp cổ ở các bản Xiềng Tắm, Tả Lày và Xiềng Trên. Nhưng 3 ngôi cổ tháp đó đã sụp đổ do không được quan tâm. Nắng gió biên thuỳ thì không cần phải bàn, nắng thì như đổ lửa, lạnh thì như cắt thịt, mưa gió triền miên nên khó có công trình nào có thể tồn tại lâu. Tháp cổ tồn tại cho đến bây giờ đã là một kỳ tích nhiệm màu.

Ông Liệu cũng cho hay: "UBND xã đã làm đơn trình lên cấp trên và các cấp có thẩm quyền để khảo sát, xếp hạng di tích hoặc có kế hoạch trùng tu bảo tồn nhưng đến nay vẫn chưa có kết quả gì. Hơn 90 hộ với 400 nhân khẩu bản Yên Hoà đang lo lắng, rồi số phận tháp cổ cuối cùng này liệu có sụp đổ giống 3 ngôi tháp trước đây hay không?".

Bà Cụt Thị Nguyệt (Phó Chủ tịch UBND huyện Kỳ Sơn):

"Tôi đã tìm hiểu rất kỹ ngôi tháp ở xã Mỹ Lý, đó là công trình của giáo phái tiểu thừa di cư từ Thái Lan qua Lào vào Việt Nam vào thế kỷ thứ VII. Giai đoạn này thường xuất hiện 2 loại tháp: Tháp mộ và tháp thờ.

Qua khảo sát, nhận thấy tháp cổ ở Mỹ Lý là tháp thờ vì phía bên cạnh có một nhà thờ đã bị sập. Hiện tỉnh Nghệ An có 200/1395 di tích danh thắng được xếp hạng cho nên tháp cổ ở Mỹ Lý giao cho địa phương quản lý vì thuộc danh mục phân cấp chưa được xếp hạng".

Ông Nguyễn Văn Thanh (Trưởng ban Ban Quản lý di tích danh thắng, Sở VH-TT&DL tỉnh Nghệ An)

"Chúng tôi không có bất kỳ một tư liệu nào nói về ngôi tháp ở bản Yên Hoà. UBND xã Mỹ Lý cũng đã gửi đơn lên cấp trên, tuy nhiên chúng tôi không có ý kiến gì vì đó là khu vực nhạy cảm. Vì tháp ở khu vực biên giới quốc gia nên chúng tôi phải chờ ý kiến chỉ đạo từ tỉnh".

Du lịch, GO! - Theo VTC

Thứ Hai, 10 tháng 6, 2013

Đình Phú Hựu ở Đồng Tháp.

Di tích đình Phú Hựu là tên gọi theo địa danh của thôn. Vị trí tọa lạc đình Phú Hựu hiện nay thuộc ấp Phú Hòa, thị trấn Cái Tàu Hạ, huyện Châu Thành.

Xét về qui mô kiến trúc, đây là một trong những ngôi đình lớn tiêu biểu ở tỉnh Đồng Tháp. Theo lời kể của các vị bô lão ở xã Phú Hựu, nay là thị trấn Cái Tàu Hạ, vào đầu thế kỷ XIX, ông Thiều Quang Lộc là người địa phương đã vận động nhân dân trong làng đóng góp tiền của để xây dựng ngôi đình ở nơi thoáng mát, thuận lợi cho việc cúng tế của dân làng. Sau đó, ngôi đình đã được ông Võ Thế Lực đứng ra quyên góp tu bổ thêm khang trang. Năm Tự Đức ngũ niên (1852) đình được vua ban sắc phong “Thành hoàng Bổn cảnh”. Đến năm Bính Dần 1903, đình được di dời và trùng tu một lần nữa do bị nước xoáy mòn và được giữ gìn nguyên trạng như vị trí ngôi đình hiện nay.

Đình Phú Hựu có kiến trúc và trang trí nội thất độc đáo gồm các hạng mục công trình: Bình phong, đài sen, nghi môn, miếu ngũ hành, miếu ông Hổ, miếu Thần Nông, miếu Bà Chúa Xứ, đình, nhà khách.

Khu đình chính chia làm hai phần: Phần ngoài là khu làm việc của hội đồng làng-xã, có kê bàn ghế, chỗ ngồi để tiếp khách. Kết cấu theo lối tứ trụ, chính giữa có 4 cây cột tròn (02 cây phía trong chạm rồng, 02 cây phía ngoài hình tròn, không chạm nhưng có viết hai câu đối). Gian trong (gian chính) có kết cấu gần giống với khu ngoài nhưng có vách - đây chính là gian thờ thần. Gian chính cũng được dựng theo lối “Tứ trụ”, đỡ giàn kèo bởi bốn cột gỗ quý có chạm nổi hình rồng (long trụ) và kèm bốn câu đối.

< Lễ thỉnh sắc.

Theo những vị cao niên trong Ban Quý tế, bốn cột gỗ căm xe này có từ lúc cất ngôi đình đầu tiên. Sau đó, trong những ngày “Tiêu thổ kháng chiến” chống Pháp (1945), dân làng dỡ ngôi đình, toàn bộ phần gỗ và đá, gạch kê chân cột của đình được mang đi đắp cảng ngăn tàu giặc ngay đầu vàm Phú Hữu, đến nay vẫn còn dấu tích cây gỗ và gạch có thể nhìn thấy bằng mắt thường khi nước ròng. 4 cây long trụ được đem giấu và dùng lại khi dựng lại ngôi đình.

Phía trong cùng là nơi thờ Thành Hoàng bổn cảnh với chữ “Thần” rất lớn bày trong 01 trang thờ riêng, phía dưới chữ “thần” là hộp phủ khăn điều đựng sắc phong Thành Hoàng. Hai bên là bàn thờ Tả ban và Hữu ban, hiểu là các vị hỗ trợ thần Thành Hoàng trong cai quản vùng đất. Các câu đối ở bàn thờ Tả ban và Hữu ban đều đã được phiên âm Hán Việt và viết vào mảnh giấy dán bên cạnh. Cách làm này là để cho những ai có quan tâm có thể đọc được dù không hiểu lắm chữ Hán.

< Bản sắc phong hiện còn lưu giữ.

Đáng lưu ý nhất trong gian thờ thần là 02 bàn thờ kế tiếp nhau cùng đề 4 chữ “Binh Đinh Nhân Điền”. Bàn thờ thứ nhất có 02 câu đối và phía trên 4 chữ ấy có đề “Liệt Sĩ Linh Đường”. Đây có thể hiểu là bàn thờ những anh hùng liệt sĩ, có công đối việc bảo vệ xóm làng, một tập tục phổ biến trong các đình ở Nam bộ, nhất là sau hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ. Bàn thờ thứ 2 có 4 câu đối, không có chữ phía trên. Riêng các bàn thờ “Binh Đinh Nhân Điền” này không có người viết phiên âm hán Việt.

Không gian bao bọc đình thần luôn thoáng mát nhờ những hàng cây cổ thụ và gió sông Sa Đéc ở phía trước mặt, sông Cái Tàu Hạ bên hông. Hàng năm, đình Phú Hựu diễn ra các lệ cúng: lễ Hạ Điền ngày  17 tháng 6 âm lịch và lễ Thượng Điền ngày 17 tháng 9 âm lịch, lễ Chạp miễu ngày 17 tháng 12 âm lịch.

< Dấu ấn và ngày phong sắc vẫn còn rõ nét.

Có thể đi từ đường Tỉnh 933 (đoạn ở xã Tân Thạnh) vào để đến đình Phú Hữu; hoặc từ cầu Đại Ngãi rẽ phải theo đường mới mở đi về Tân Thạnh, từ khu điện lực Long Đức đi đường thuỷ theo lối sông Đại Ngãi cũng có thể đến được đình Phú Hựu.

Di tích đình Phú Hựu được thường xuyên tu bổ, gìn giữ làm nơi sinh hoạt thỏa mãn đời sống tâm linh của người dân, giáo dục truyền thống “uống nước nhớ nguồn” cho các thế hệ con cháu. Ngày 18 tháng 12 năm 2009, đình Phú Hựu được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quyết định xếp hạng di tích quốc gia tại Quyết định số 4705/ QĐ – BVHTTDL. Đình Phú Hựu cùng với các di tích lịch sử văn hoá trong tỉnh sẽ góp phần  làm giàu thêm  kho tàng di sản văn hoá của cả nước.

Du lịch, GO! - Tổng hợp từ Svhttdl.dongthap, Ctlsoctrang.blogspot.com..

Chủ Nhật, 9 tháng 6, 2013

Chùa Từ Đàm - Danh lam xứ Huế

Chùa Từ Đàm tọa lạc trên một khu đất cao nằm trên đỉnh dốc Bến Ngự, số 1 đường Sư Liễu Quán, thuộc phường Trường An, thành phố Huế. Mặt chùa hướng Đông Nam. Bên trái chùa, có chùa Linh Quang và đền thờ cụ Phan Bội Châu.

< Cổng tam quan chùa Từ Đàm.

Thiền thất được ngài Minh Hoằng - Tử Dung, vị Thiền sư Trung Hoa dựng vào cuối thế kỷ XVII (khoảng năm 1690) vào đời chúa Nguyễn Phúc Thái, tại  Hoàng Long Sơn, đặt tên là Ấn Tôn với ý nghĩa lấy sự truyền tâm làm tông chỉ. Năm 1703, chúa Nguyễn Phúc Chu sắc phong cho chùa là Sắc tứ Ấn Tôn Tự. Đến năm 1841, vua Thiệu Trị sắc chỉ đổi tên “Từ Đàm Tự” tức đám mây lành, tượng trưng cho đức Phật, cho ngôi chùa Việt Nam.

< Cây Bồ đề tại chùa Từ Đàm.

Năm 1699, ngài Liễu Quán đã đến cầu học tham thiền với Thiền sư Minh Hoằng - Tử Dung. Ngài đã trình kệ "Dục Phật" (tắm Phật) được Tổ ấn khả, truyền tâm ấn trong kỳ an cư kiết hạ năm Nhâm Thìn (1712).

Từ một ngôi chùa cổ kính của Thiền phái Lâm Tế, chùa Từ Đàm được xây dựng làm chùa Hội quán Tỉnh hội Phật giáo. Từ những năm 1920, phong trào chấn hưng Phật giáo Việt Nam được phát triển ở cả ba miền.

< Mặt tiền của chùa Từ Đàm xưa.

Tại Huế, An Nam Phật học hội thành lập vào năm 1932 do các vị cao tăng thạc đức, cư sĩ  lãnh đạo như các ngài Giác Tiên, Giác Nhiên, Tịnh Hạnh, Tịnh Khiết, bác sĩ Tâm Minh Lê Đình Thám, cụ Nguyễn Khoa Tân, cụ Nguyễn Đình Hòa … Năm 1936, chư sơn môn đồng thuận giao chùa cho Hội để làm nơi thờ phụng và làm trụ sở của Hội. Ngày 18-12-1938, Tỉnh hội Phật học Thừa Thiên đã xây chùa Hội quán trên nền cũ chùa Từ Đàm, giảng đường, nhà tăng và một số căn nhà làm việc của Tỉnh hội.

< ... và nhà tiền đường bây giờ, sau khi được xây mới.

Ngôi chùa cũ có nhà tiền đường, mái ngói, ba gian, rộng 7,4m, dài 18m. Gian trong cùng thờ tượng đức Phật Thích Ca ngự trên tòa sen, tay bắt ấn Tam muội. Tượng bằng đồng, cao khoảng 1,30m, do hai ông Nguyễn Khoa Toàn và Nguyễn Hữu Tuân thực hiện năm 1940. Hai bên tượng treo hai tràng phan, một bên đề danh hiệu 7 đức Phật ở Ta Bà, một bên đề danh hiệu 7 đức Phật ở Tịnh Độ.

Trên vòng cung trước bàn thờ treo tấm hoành sơn son thếp vàng giữa có ba chữ Hán “Ấn Tôn Tự”, phía trái có mấy chữ Thiên Vận Quý Mùi (1703) Sơ Xuân Cát Đán. Đối diện bức hoành trên là một bức hoành giữa đề bốn chữ “Huệ Nhật Trung Thiên”.

Cổng tam quan chùa được xây dựng năm 1965, phía trong là cội Bồ đề. Cây Bồ đề này có nguồn từ cây Bồ đề chính tại Ấn Độ, nơi đức Phật Thích Ca thành đạo quả vô thượng giác, đã được nhà sư  Mahinda (nguyên thái tử, con vua A Dục) đem giống sang trồng tại Srilanca (Tích Lan) khi qua truyền đạo tại đây vào thế kỷ III trước Tây Lịch. Trưởng lão Narada, người Tích Lan, lấy giống từ cây Bồ đề ở Tích Lan cùng bà Karpelès trong phái đoàn Phật giáo Campuchia tặng Hội Phật học Trung phần và trồng tại đây trong dịp sang thăm Huế năm 1939.

Năm 1951, chùa là nơi tổ chức Hội nghị 51 đại biểu của 6 tập đoàn Tăng già và Cư sĩ ở 3 miền thành lập Hội Phật giáo Việt Nam và phê chuẩn việc Hòa thượng Tố Liên thay mặt Hội Phật giáo Việt Nam ký tên gia nhập Hội Phật giáo thế giới. Bài hát nổi tiếng "Từ Đàm quê hương tôi" của Nguyên Thông đã có nói đến sự kiện quan trọng này : "Ôi ! anh linh bóng chùa Từ Đàm, nơi Bắc Nam nối nguồn Đạo Vàng ... Từ Đàm ơi !"

< Điện Phật chùa Từ Đàm xưa.

Trong bài viết "Vai trò và vị trí chùa Từ Đàm đối với Phật giáo xứ Huế và miền Trung", Tỳ kheo Thích Hải Ấn cho biết từ năm 1940 ở Huế đã có Ban Đồng Ấu rồi có Đoàn Thanh niên Phật học Đức Dục của bác sĩ Lê Đình Thám lập ra, tụ hôi được nhiều phần tử trí thức tân học thời đó để dạy Phật pháp cho họ. Năm 1943, Gia đình Phật Hóa Phổ ra đời, đến năm 1951, đổi thành Gia đình Phật tử, đặt trụ sở tại chùa Từ Đàm và lan rộng tới cả miền Bắc và miền Nam.

< ... và bây giờ.

Ngày 04-7-2006, chùa đã tổ chức tái thiết ngôi chánh điện với chiều dài 42m, chiều ngang 35,9m gồm hai phần, dưới là tầng hầm dùng làm hội trường, trên là ngôi chánh điện, kiến trúc theo mô hình trùng thiềm điệp ốc, ba gian hai chái, kiểu kiến trúc truyền thống của chùa Huế. Đại lễ An vị Phật đã được tổ chức trọng thể vào ngày 24-12-2007 (ngày rằm tháng 11 năm Đinh Hợi).

Chùa Từ Đàm ngày nay là một ngôi già lam tráng lệ. Điện Phật được bài trí tôn nghiêm. Chính giữa thờ tượng đức Phật Thích Ca, hai bên có phù điêu hai vị Bồ tát Văn Thù và Phổ Hiền. Chùa có nhiều hoành phi và câu đối. Xin trích 3 cặp đối do Tỳ kheo trụ trì Thích Hải Ấn ghi lại và dịch nghĩa :

< Lễ đài Phật đản.

1. Trước hiên chùa, cặp đối do bác sĩ Tâm Minh Lê Đình Thám soạn:

Phật chính biến tri, vô lượng thọ, vô lượng quang, vô lượng công đức.
Học chân thật nghĩa, như thị văn, như thị tư, như thị tu trì.

Nghĩa: Phật là bậc Chánh Biến tri, Vô lượng thọ, Vô lượng quang, Vô lượng công đức.
Học theo nghĩa chân thật, nghe như vậy, tư như vậy, tu trì như vậy.

2. Trước hiên chùa, cặp đối do cụ Phan Bội Châu tặng:

Bát-nhã bổn vô ngôn, ly tứ cú, tuyệt bách phi, ứng hóa tùy duyên thuyết vô lượng vô biên diệu pháp,
Bồ-đề tiên hữu nguyện, chứng tam minh, cụ ngũ nhãn, câu viên phước quả thành đại hùng đại lực từ tôn.

Nghĩa: Bát-nhã vốn không lời, rời bốn vế, trừ trăm không, ứng hóa tùy duyên, giảng diệu pháp vô lượng, vô biên,
Bồ-đề cần có nguyện, chứng tam minh, đủ năm mắt, tựu thành quả phúc, thành từ tôn đại hùng, đại lực.

3. Trong điện Phật, cặp đối của cố Hòa thượng Thích Thiện Siêu soạn:

Bát-nhã bổn vô ngôn, ly tứ cú, tuyệt bách phi, ứng hóa tùy duyên thuyết vô lượng vô biên diệu pháp;
Bồ-đề tiên hữu nguyện, chứng tam minh, cụ ngũ nhãn, câu viên phước quả thành đại hùng đại lực từ tôn.

< Tổ đường.

Nghĩa: Bát-nhã vốn không lời, rời bốn vế, trừ trăm không, ứng hóa tùy duyên, giảng diệu pháp vô lượng, vô biên;
Bồ-đề cần có nguyện, chứng tam minh, đủ năm mắt, tựu thành quả phúc, thành từ tôn đại hùng, đại lực.

Chùa hiện đặt Văn phòng Ban Trị sự Phật giáo tỉnh Thừa Thiên Huế.  Những ngày đại lễ của Phật giáo hằng năm như kỷ niệm ngày Phật đản, lễ Vu Lan, lễ Phật Thành đạo ... và nhiều hoạt động Phật sự khác ở Huế đều được tổ chức trọng thể tại chùa. Chùa thường xuyên đón tiếp chư vị Tôn đức lãnh đạo Phật giáo các nước, chư vị học giả, trí thức và nhiều đoàn du khách, Phật tử trong nước, nước ngoài đến thăm, lễ Phật.

Du lịch, GO! - Theo báo Giác Ngộ

Thứ Hai, 3 tháng 6, 2013

Chùa động Hang Son - Uông Bí

Di tích - Danh thắng động chùa Hang Son - Uông Bí nằm phía Tây xã Phương Nam, Thị xã Uông Bí tỉnh Quảng Ninh; Tây Bắc giáp Hồng Thái Tây (huyện Đông Triều), Tây Nam giám sông Đá Bạc, Đông giáp hai thôn Hồng Thái, Hồng Cẩm của xã Phương Nam.

Di tích - Danh thắng Hang Son nằm trong dãy núi Chu Cốc: có động Hang Son, Hang Ma, diện tích khoảng 800m², đi thẳng đường trong hang đến Chùa Thượng. Đây cũng là một hang đá tự nhiên thông với Hang Son ở độ cao 200m, so với mặt biển; có núi và Hang Xếp Bằng, diện tích khoảng 50m²; có núi Hang Hổ, diện tịch 200m²; có núi Dê, ở độ cao trên 500m so mặt nước biển, trên đỉnh núi Áng Tiên...

Trong hang động có nhiều nhũ đá với muôn hình vạn trạng kỳ thú; trên núi Chó nhiều cây lâu niên. Xung quanh các dãy núi có dòng sông Ma chạy vòng quanh. Đứng trên đỉnh núi nhìn xuống là dòng sông Đá Bạc chảy từ Tây sang Đông...

Tất cả đã tạo thành Cụm di tích lịch sử - văn hoá và Danh thắng Hang Son với phong cảnh sơn thuỷ hữu tình sánh ngang với thắng cảnh Chùa Hương - Động Hương tích (tỉnh Hà Tây) và Tam Cốc - Bích Động (tỉnh Ninh Bình). Văn bia trong Đền có đoạn ví "hiếm có nơi nào sánh được".

Dãy núi Chu Cốc có tên Núi Son, trong núi có hang Son và Đền Hang Son rất ling thiêng. Theo truyền thuyết kể lại, vào thời Trần hưng Đạo đã đưa quần về đây mai phục chuẩn bị cho trận đánh quân Nguyên - Mông trên dòng sông Bạch Đằng năm 1288. Trước trận đánh, Trần Hưng Đạo đã vào đền thắp hương khấn thần đền phù hộ và hứa rằng sau khi thắng giặc trở về sẽ làm lễ tạ ơn. Y lời, sau khi thắng giặc trở về Trần Hưng Đạo đã trở lại Hang Son làm lễ tạ ơn, tổ chức khao quân mừng chiến thắng, vẩy rượu lên vách hang, do dự phong hoá của thiên nhiên, vách hang có mầu nâu, từ đó có tên núi Hang Son.

Năm 1329, khi vua Trần Hiến Tông đi du ngoạn đến đây thấy hang đẹp đã cho khắc dòng chữ "Bão Phúc Nham"- (tức: động đẹp trên núi cao mang lại nhiều điều tốt lành). Từ đó, núi Hang Son lại có thêm tên nữa. Sau này, trong các bài văn thơ, bia ký của các triều đại Trần, Lê, Nguyễn đều họi là Bão Phúc Nham. Tuy nhiên, nhân dân vẫn thường quen gọi là núi Son và Hang Son.

Sách Đại Nam nhất thống chí có đoạn: "Núi Chu Cốc ở cách huyện Thuỷ Đường 13 dặm về phía bắc qua đây để vào địa phận Quảng Yên, tức là một dòng sông chảy về phía đông bắc qua đây để vào địa phận Quảng Yên, tức là dòng của sông Bạch Đằng ..."

Qua lời kể của các cụ già và nhân dân trong vùng, nơi đây vẫn lưu truyền thần tích về vị thần được thờ trong Đền Hang Son: Đó là một chàng trai khôi ngô tuấn tú và rất mực thông minh tên là Phạm Chấu. Đi theo học thầy đồ Hoàng Nhật Biến nổi tiếng uyên thông  thiên văn, ngũ kinh và văn chương. Vào vụ hạn hán mất mùa của người dân vùng này, chàng Phạm Chấu đã xem thiên văn, dùng phép thuật cầu mưa đưa nước từ sông vào đồng ruộng, đã quá mệt và hoá thân thành con cá chép trôi theo dòng sông Ma về động Hang Son. Để tưởng nhớ lại công lao của chàng trai, nhân dân địa phương và hai làng Quy Khê, Thuỷ Đường quyên góp và công đức lập đền thờ tại Hang Son và tôn là "Bát Hải Đại Vương".

Qua câu chuyện truyền thuyết trên, thực chất là quan niệm của người ngư dân vùng sông nước. Dây là vì thân hộ mệnh thiêng liêng trông coi 8 cửa biển với ý niệm (đất có thổ công, sông có hà bá), cũng là tín ngưỡng dân gian.
Nghiên cứu tự nhiên, điền dã thực địa Hang Son có từ thời Lý.

Bởi vì cuộc kháng chiến chông giặc Nguyên - Mông lần thứ 3 của Trần Hưng Đạo chọn dòng sông Bạch Đằng làm nơi quyết chiến quyết thắng thì núi Chu Cốc và các hang động trong núi là nơi dấu quân chuẩn bị lực lượng mai phục góp phần làm lên chiến thắng Bạch Đằng năm 1288.

Vào cuối thế kỷ XVI, Hang Son không những có ngôi đền Hang Son thờ Bát Hải Đại Vương mà còn lao nơi thờ phật. Bia đá khắc năm Giáp Tuất niên hiệu Sùng Khang thứ 7 (1572) có ghi rõ họ tên của người hưng công, công đức tiền của đẻ trùng tu phật điện, tạc tượng phật thờ (bia do Hạ Khuông Ngọc Tưan tự là Tiểu Bần Nạp Đạo Trí soạn và Siển Giáo Đạo Sơn chùa Trấn Quốc viết chữ). Cũng từ đó, hang Son có hai cung thờ: thờ Thần và thờ Phật. Đây cũng là sự kết hợp giữa tín ngưỡng dân gian và phật giáo của cư dân vùng sông nước nông nghiệp với đạo pháp "Sống tốt đời đẹp đạo".

Vào đầu thế kỷ XX, Hang Son trong núi Chu Cốc cũng được trùng tu tôn tạo lớn hơn. Văn bia đề ngày 14 tháng 4 năm Khải Định thứ 10 (1925) do Nguyễn Ngọc Nhuận soạn, Bùi Huy Bích cùng các ký dịch dựng: "trong núi có động, có thánh tượng (thờ Tổ tiên) truyền rằng Quỳ Khê ta thờ thánh đã lâu; (từ xưa có câu ngạn ngữ "Đền làng Khánh, Thánh làng Quỳ") cầu tất ứng, đảo tất thông tỏ rõ linh ứng...".

Đền Hang Son được xây dựng rất khang trang vào thời Nguyễn. Bia dựng năm Bảo Đại thứ 9 (1934) có ghi: "Năm Quý Hợi, thầy trò tôi đến nơi này tiến hành tu tạo; năm Giáp Tuất xây một toà; Năm Lỷ Tỵ sửa chữa một toà tượng Phật, một bộ cửa điện, một đôi câu đối; Năm Nhân Thân đúc một quả chuông".

Do thời gian quá lâu, điều kiện thiên nhiên khắc nhiệt; các cuộc chinh chiến dựng nước và giữ nước Đền Hang Son, cung thờ phật, tượng pháp, đồ thờ tự... bị thất lạc, các công trình xuống cấp và hư hỏng nghiêm trọng. Trong cuộc chiến tranh chống Mỹ, Hang Son là nơi sơ tán của Nhà máy ôxi Hải Phòng và Bệnh viên thị xã Uông Bí.

Hiện nay, Đền Hang Son và Chùa Hang Son chỉ còn lại 4 bia đá gồm: Ba chữ Hán khắc trên vòm hang "Bão Phúc Nhan" triều vua Trần Hiến Tông (1329); Bia khắc trên vách hang năm Sùng Khang thứ 7 (1572); Bia hưng công năm Bảo Đại  thứ 9 (1934); Bia "Lưu ký thạch bi" năm Bảo Đại thứ 10 (1935); Bia khắc song ngữ Việt - Pháp năm 1936. Tượng thờ gồm: tượng Đức Ông, tượng Trần Hưng Đạo, tượng Thánh Hang Son và Mẫu Thượng Thiên. Chùa Hang Son có 15 phu tượng Phật (bài trí từ trên xuống dưới, từ trong ra ngoài, từ phải qua trái), một đỉnh hương và một chuông đồng. Các hiện vật tượng pháp và đồ thờ tự có niên đại vào thời Lê, Mạc, Nguyễn, chất liệu chủ yếu bằng đất, gỗ, xi măng hầu hết được dân công đức và phục chế vào những năm gần đây (1987) để có nơi thờ tự và tưởng nhớ công đức các ngài.

Xuất phát từ truyền thuyết và thần tích dân gian vị Thánh Hang Son là người có công cứu dân làng qua khỏi hạn hán mất mùa sau đó hoá thân vào ngày 13/4 (âm lịch). Từ đó, hàng năm nhân dân địa phương và quanh vùng (có cả huyện Thuỷ Nguyên Hải Phòng) đều tổ chức Hội Đền Đức Thánh Hang Son trong hai ngày 13, 14/4 (âm lịch). Theo các cụ cao niên kể lại, Lễ hội Đền Đức Thánh Hang Son được nhân dân tôn sùng, ngưỡng mộ làm Thành hoàng của làng. Vào ngày mở hội, già trẻ gái trai náo nức chuẩn bị lễ vật (cỗ chay và cỗ mặn), áo mũ chỉnh tề, cờ dong trống dục xếp hàng rước lễ của làng, cả họ, của gia đình đến tế thần.

Trong điều kiện kinh tế phát triển, lãnh đạo, Ban quản lý Di tích và nhân dân địa phương đã vận dung Nghị quyết Trung ương X (khoá 9) của Đảng "Xây dựng và phát triển văn hoá Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc" đã đứng ra tổ chức Lễ hội trở thành ngày hội văn hoá của nhân dân địa phương. Tờ mờ sáng ngày 13/4 các thôn trong xã cùng nhân dân trong vùng đã tề tự đông đủ tại Bến đò Chợ cầu làm nghi thức rước lễ của làng ra Đền làm lễ tế. Lễ rước gồm: một con lợn to làm sạch, mổ bụng đặt lên bàn gỗ do bốn nam thanh niên khiêng; một mâm bánh dầy; ba mâm hoa quả, trầu cau, rượu, vàng hương... tất cả đoàn rước đi thuyền ra Đền.

Đi đầu đoàn rước là cờ hội, cờ ngũ sắc, trống lẹnh, bộ bát bửu, phường bát âm. đoàn tế, các mâm lễ các chức sắc, quan khách và nhân dân. Khi thuyền cặp bến, các mâm lễ được chuyển và Đền đặt lên ban thờ. ông chủ tế trong bộ trang phục áo dài ngũ thân, đầu đội khăn xếp cùng đội tế vào tư thế chuẩn bị nghi thức tế thần theo nghi lễ truyền thống. Sau khi thắp đèn, hương dâng lễ nghênh thần 4 lần dâng lễ và xướng tế chủ tế và đội tế quỳ bái trước bàn thờ. Cuối cùng đọc bài văn tế (văn khấn), xin âm dương rồi hoá vàng mã. Tiếp theo là các quan khách, cá nhân, dòng họ và du khách thập phương.

Sau khi làm nghi lễ tế thần xong, các mâm cỗ được để lại một phần cho chủ tế, đội tế và thủ từ thụ lộc tại Đền; phần còn lại chia đều cho các hộ mang về gia đình. Trong ngày hội trước kia còn tổ chức nhiều trò chơi dân gian, hát chầu văn, hát chèo cùng các hoạt động nghệ thuật quần chúng khác.

Căn cứ vào giá trị khu di tích lịch sử - văn hoá và Danh thắng Hang Son, ngày 27/2/1999, Uỷ ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh ra Quyết định số 413/QĐ-UBND công nhận Di tích lịch sử - văn hoá và Danh thắng  Hang Son là di tích cấp tỉnh. Cụm Di tích Hang Son có giá trị nhiều mặt về lịch sử - văn hoá, nghiên cứu khoa học, chiến lược quân sự, phát triển kinh tế xã hội và tham quan du lịch trong tương lai. Nơi đây có phong cảnh sơn thuỷ hữu tình: có núi có sông chạy quanh; có hang động và đền thờ. Trong tương lai cùng với Danh sơn Yên Tử, Hồ Yên Trung, Chùa Bí Thượng và Hang Son tạo thành tua du lịch sinh thái hấp dẫn du khách.

Du lịch, GO! - Tổng hợp theo Cổng Thông tin Điện tử TP Quảng Ninh, ảnh Lương Cao Dũng (Panoramio), internet

 
Bếp từ, Bep tu, Bếp từ giá rẻ, Bếp từ hồng ngoại, Bếp từ đôi, Bếp điện từ, Bếp hồng ngoại, Bep hong ngoai