Kênh thông tin giải trí hàng đầu

Tin tức trong nước 24 giờ qua được cập nhật thường xuyên và nóng hổi

Cùng tim hiểu, khám phá những dang lam thắng cảng Việt

Những Danh lam thằng cảnh tuyệt đẹp, nơi sưu tầm những danh lam thắng cảnh đẹp nhât hiện nay

Những khu du lịch sinh thái đẹp nhất

Du lịch Việt, Những danh lam thắng cảnh đẹp nhất

Du lịch Biển đẹp

Tham gia những tuor du lịch tới mọi miền thế giới

Khám phá thiên Nhiên kì thú

Cùng tham gia khám phá những bí ẩn thiên nhiên kì thú

Hiển thị các bài đăng có nhãn Làng nghề. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Làng nghề. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 29 tháng 6, 2013

Sản vật bàu Chánh Trạch

Hoàng hôn trên bàu Chánh Trạch.
Bàu Chánh Trạch (xã Mỹ Thọ, huyện Phù Mỹ-Bình Định) có rất nhiều sản vật to khác thường và thơm lạ.

Xa xa khói lam phủ nóc nhà ai, nơi thung lũng mà người dân gọi là bàu đến mùa trầm thủy, long mạch từ Ô Phi chảy mãi không bao giờ cạn nuôi dưỡng phù sa cho cả một vùng bàu…

Nguồn phù sa của bàu Chánh Trạch có từ núi Ô Phi. Tương truyền, núi Ô Phi ở đây là con quạ đen vẫy cánh bay lên án ngự ở phía Tây, phía Đông là con rồng nằm canh giấc. Có một người khổng lồ gánh hai hòn núi xuống lấp biển, ngăn dòng thủy quái thì bị té, hai hòn núi rớt xuống thành Mũi Rồng và Bãi Sau án ngữ thành hình rồng nằm. Ngọn hải đăng là đời sau muốn thắp lên mắt rồng một ánh sáng vĩnh hằng nhìn ra phía biển.

Dưa, bí khổng lồ

Mùa nước lớn, nguồn nước từ núi Ô Phi dữ dằn tuôn xuống ném tung đất đá, nhưng khi gặp bàu thì lại dịu dàng, phù sa ngủ quên để dòng nước âm thầm chảy ra Đề Gi về với mẹ biển. Đến bên bàu, mọi thứ được chở che, nuôi dưỡng. Ô Phi cho phù sa, bàu trả lại hoa màu. Xưa, Ô Phi nhiều loài thú, chim sống đông đúc bởi đất lành, bởi có bàu với muôn ngàn hoa thơm, quả lạ…

Chuyện kể tưởng ngàn xưa, nay vẫn hiển hiện ngay trên vùng đất Mỹ Thọ. Lạc vào mê cung của bí, tôi như không tin vào mắt mình khi nhìn thấy những trái bí khổng lồ. Tôi hỏi một cụ già râu tóc đã bạc, làm sao mà có được trái bí đao nặng đến cả mấy chục ký, trái dưa leo to bằng cổ chân? Vừa nghe hỏi, ông lão vểnh râu lên, nhìn thẳng vào mặt tôi, dịu giọng: “Bí ở đây nặng cả tạ chứ sao lại vài chục, dưa leo thì bằng quả mướp, còn mướp thì to bằng quả dưa gang, dưa gang thì to bằng quả bí, còn quả bí thì to… thế đấy!”. Nói đặng, ông lão cười khà rồi khuất dần giữa rừng bí lủng lẳng, quả nào cũng to hơn thân hình lão.

“To nhưng không dở, loài trái nào cũng đậm đà hương vị. Các loại dưa ở đây ăn không cần phải thêm gia vị, chỉ hái là ăn, ăn ngay tại ruộng, vừa có hơi mát từ mạch nguồn Ô Phi, vừa có vị ngọt từ phù sa bàu Chánh Trạch, lại vừa có vị mặn mà của biển do rồng phun nước vào”, lão nông Nguyễn Văn Thắng chắt lọc.

Anh Lê Mai Đảnh tiếp tục giữ “thương hiệu” cho bí khổng lồ.
Nếp, rượu và cá diếc

Lão nông Lê Tiến Đức (75 tuổi) giới thiệu: “Mùa nếp ba tháng, cả cánh đồng ở đây tỏa mùi thơm kỳ lạ. Đến hồi nếp chín, cả làng như đang xông trầm. Cậu có tin chuyện người lạ đi ngang cánh đồng nếp bị mùi hương quyến rũ lo ngoái đầu, lim dim mắt mà lọt xuống ruộng không?”.

Lão kể rằng, giống nếp này truyền lại từ mấy đời ông bà rồi. Giống lúa hiện nay vài mùa là bị thoái hóa nhưng giống nếp này thì mấy đời rồi vẫn luôn là “tế bào gốc”, nhưng nhiều nhà nghiên cứu đã đến rồi đi mà không có câu trả lời vọng lại. “Giống này quý lắm, trước kia chạy giặc bao giờ cũng mang theo một vài ký nếp giống hoặc chôn một nơi kín đáo, mất gì thì mất chứ nếp ba tháng thì không thể mất”, lão nông mắt nhìn xa xăm, tâm sự.

Nếp bàu Chánh Trạch khi phơi cũng tỏa mùi hương.
Cánh đồng hơn 40ha nếp vẫn xanh bao đời, hạt nếp ngậm sữa tỏa hương đã chắt lọc bao nỗi cơ cực, bao giọt mồ hôi đến bạc râu của nhiều lão nông ở đây để cho cánh đồng xanh tốt. Nếp này chỉ trồng ở bàu Chánh Trạch mới ngon, mới dẻo, mới thơm. Nhiều người liều lĩnh đem trồng thử ở thổ nhưỡng khác đều thất bại bởi “nó không hưởng long mạch của thiên ân đã giao cho núi Ô Phi ngàn đời tưới cho bàu”.

Cụ bà Trần Thị Hải chen vào câu chuyện “Hạt nếp thơm kỳ lạ nên ai nấu xôi nếp, làm bánh ít, bánh tét thì cả làng đều biết”. Bà cam đoan rằng, nếu không phải dân ở đây thì lần đầu không bao giờ ai nấu xôi bằng nếp ba tháng được. Nhiều cô dâu của làng khóc vì không nấu xôi, làm bánh tét, bánh ít được; bởi cứ hễ bỏ nếp vào nước đun sôi là nhão ỳ ra. “Nó dẻo và thơm, để không bị nhão và không mất mùi thơm thì… về làm dâu ở đây rồi biết!”, cụ bà cười đầy tự hào.

Cụ Nguyễn Thị Diệp: “Hành ở đây vừa to, vừa thơm ngon lắm”.
Cụ ông không buông tha: “Nếp, gạo trồng từ bàu ấy lấy nấu rượu nhỉ… Mà cậu uống đi, uống để tự mình cảm nhận mùi thơm chạy khắp cơ thể chứ tui nói cậu bảo tui nói dóc”. Lão điệu nghệ rót ly rượu nấu từ tinh túy đất trời, giảng giải: “Rượu Mỹ Thọ không “nóng hỗn” như Bàu Đá (uống tới đâu nóng đến đó), rượu này phù hợp với ngự uyển: dịu, đằm thắm, cứ uống rồi nhắm mắt lại để hương nồng đưa hồn lâng lâng bay bổng đến cõi Lưu Linh, rồi hương thơm mới chạy khắp người”. Có khách đến uống rượu, mùi vị dịu dặt nên không cảm thấy say nhưng khi đi cứ lảo đảo cắm vào bờ rào mà ngỡ mình bước vào cõi Thiên Thai.

Lão Đức chêm thêm: “Rượu này mà nhấm gỏi cá diếc thì… cả đời cậu mơ cũng không biết nó ngon thế nào. Cá diếc bàu này không nơi nào bằng”. Vào mùa khô, bàu không còn nước, trứng cá được mẹ đất che chở chờ mùa sinh nở. Mùa mưa nước ở lại bàu khoảng 8 tháng, đủ để cá sinh trưởng một chu kỳ.

Cánh đồng bàu rộng hơn 80 ha là “bầu sữa” của Mỹ Thọ.
Khoảng từ tháng 10 đến tháng Chạp, cá diếc vừa đủ lớn để trở thành đặc sản. Lão ăn gỏi cá sành điệu nhưng lão cũng lạ lắm “ăn sống giấu xương, ăn chín lòi xương”. Cứ bắt cá diếc lên rửa sạch rồi cuốn với rau, cắn ăn sống, ăn vào miệng xương mềm ngáu ra, vậy mà khi nấu chín xương lại cứng, ăn không ngon.

Mùa trầm thủy (nước không cạn), bàu Chánh Trạch càng trù phú. Mỗi khi vào mùa, ở cánh đồng rộn ràng những thương lái tranh nhau để được đưa hương vị của bàu đi khắp nơi. Đã có nhiều công ty, nhà máy đến đặt vấn đề chế biến hoa quả, nước bí đao, đặc biệt là tạo thương hiệu cho rượu Mỹ Thọ, vậy mà chưa ai đủ duyên để “nàng tiên thức dậy”.

Bờ biển Mỹ Thọ vẫn còn thơ mộng chưa bị cái gọi là “lợi ích kinh tế” băm nát. Làm sao để giữ được hương của nếp, vị của dưa, sự nồng nàn của rượu và một thắng cảnh đẹp là sự trăn trở bao đời của người dân ở đây.

Du lịch, GO! - Theo Trường Đăng (Bình Định online), internet

Thứ Sáu, 28 tháng 6, 2013

Đạp xe khám phá đất dừa Cẩm Thanh

Trong khuôn khổ Festival di sản Quảng Nam, hành trình Famtrip “Khám phá Cẩm Thanh” bằng xe đạp với lộ trình vòng quanh làng quê Cẩm Thanh diễn ra ngày 24-6 tại xã Cẩm Thanh (TP Hội An, Quảng Nam).

< Thưởng ngoạn vẻ đẹp của rừng dừa Bảy Mẫu.

Những thành viên tham gia tour khám phá thuộc các công ty lữ hành đã được hòa mình vào không gian thanh bình, đậm chất quê của xứ dừa Bảy Mẫu. Xuất phát điểm từ Trường tiểu học Huỳnh Thị Lựu, khách lữ hành thong dong đạp xe vòng qua bến đò Cẩm Thanh và đã có những trải nghiệm thú vị khi dừng chân tại cơ sở chế biến nước mắm truyền thống Tư Tài, một cơ sở chế biến nước mắm có tiếng ở TP Hội An.

< Tham quan cơ sở sản xuất nước mắm truyền thống Tư Tài.

Sau đó, đoàn xe đạp nối nhau khám phá con đường ven sông được bao quanh bởi rừng dừa nước Bảy Mẫu thuộc thôn 2 và thôn 3 (xã Cẩm Thanh).

Không chỉ được đắm mình trong màu xanh ngắt um tùm của những rừng dừa bạt ngàn, du khách hiểu biết thêm về làng nghề tranh tre nhà lá, làng nghề mới được phục dựng trong thời gian gần đây.

< Trên chiếc xe đạp, những thành viên tham gia hành trình “Khám phá Cẩm Thanh” đã có những cảm nhận mới lạ.

Cập bến Hói Lăng (thôn Vạn Lăng), hòa mình vào không gian của một miền sông nước, trù phú tôm cá, trên chiếc xe đạp, những thành viên tham gia hành trình “Khám phá Cẩm Thanh” lại có những cảm nhận mới lạ khi len lỏi vào sâu hết mọi ngõ xóm của làng chài.

Du lịch, GO! - Theo Thanh Ba (Du Lịch Tuổi Trẻ)

Thứ Năm, 27 tháng 6, 2013

Đặc sản xã đảo Nghi Sơn

Tạo hoá đã ban cho xã đảo Nghi Sơn (Tĩnh Gia - Thanh Hoá) một bãi biển tuyệt đẹp, những cảng cá sôi động cùng một cuộc sống dân dã vùng cát trắng.

Từ xa xưa, với vị trí đặc biệt của mình, xã đảo Nghi Sơn được ví như một cánh tay khổng lồ ôm gọn trong lòng vụng ngọc với nước biển trong xanh, sóng êm ả.
Bờ biển dài tự nhiên và đầy hoang sơ vì chưa có sự can thiệp của con người nên mỗi bãi cát, tảng đá nhấp nhô bên sườn thông chắn cát đã tạo cho Nghi Sơn như một vịnh biển huyền bí. Sự huyền bí ấy càng tăng lên khi nước biển bốc hơi mặn hoà sương khói vào những cánh rừng âm u khiến cho xã đảo mờ mờ ảo ảo.

Từ thị trấn Tĩnh Gia, đoạn đường đến xã đảo Nghi Sơn không quá xa. Vượt qua một con đường dài nhấp nhô trên núi, nhìn xuống biển Nghi Sơn mới thấy hết những sôi động của một cảng biển miền Trung. Người xã đảo Nghi Sơn bao đời nay có nghề truyền thống khai thác, đánh bắt và nuôi trồng hải sản. Một cảng cá khổng lồ được thiết lập với hàng trăm tàu thuyền lớn nhỏ.

Đặc biệt, xã đảo Nghi Sơn còn nhộn nhịp suốt đêm ngày trên mặt biển với mô hình cá lồng. Hiện nay, toàn xã có gần 100 hộ tham gia đầu tư với trên 650 ô lồng. Nhiều loại cá có giá trị kinh tế cao được áp dụng nuôi thành công như cá mú và một số loài đặc sản tiêu thụ sang thị trường nước ngoài.

Là xã đảo có phong cảnh đẹp, nhiều di tích lịch sử văn hóa nổi tiếng, Nghi Sơn có tiềm năng rất lớn để phát triển du lịch. Trên địa bàn xã đảo Nghi Sơn hiện nay đã có một quần thể di tích lịch sử văn hoá được công nhận gồm đền thờ Quang Trung, di tích Giếng Ngọc, mộ Vua Bà và các di tích gắn liền với việc phòng thủ bờ biển khác, như: Đền thờ Quan Sát Hải, Lãnh Binh Tôn Thất Cơ…

Dọc theo bờ biển, từng nhóm những em nhỏ chụm đầu thổi lửa bên những cái hố đã được đào sẵn. Những đứa trẻ cười hiền và giới thiệu món “cá nướng cát”. Những con cá nhỏ được bọn trẻ bắt ven biển rồi đem nướng trong những hố cát, mùi rất thơm, vị tươi ngon và hoàn toàn miễn phí. Chúng tôi hoà vào cuộc chơi “cá nướng cát” giữa những con sóng vỗ êm đềm vào vịnh biển.

Từ bãi biển tuyệt đẹp ấy, chúng tôi theo một con đường mòn ven cánh rừng thông trở về khu cảng cá. Buổi chiều, thuyền bè tấp nập cập bến trao đổi hàng hoá. Những người ra khơi lâu ngày, nước da bánh mật nhưng ánh mắt sáng láng toát lên vẻ hiền hậu. Họ chào nhau bằng những cái bắt tay thật chặt hoặc cho nhau những xâu cá biển làm quà.

Du lịch, GO! - Theo Nam Trần - Kiều Trang (An Ninh Thủ Đô), internet

Chủ Nhật, 23 tháng 6, 2013

Phan Rang đâu chỉ có biển đẹp

Biển Phan Rang, Ninh Thuận đẹp chẳng thua gì Phan Thiết. Sức quyến rũ của những đồi cát ở Phan Rang không hề kém Phan Thiết. Nho Phan Rang cũng nổi danh khắp vùng đâu thua gì nước mắm Phan Thiết.
Nhưng phải làm sao cho nơi đây trở thành một điểm đến “có số má” trên bản đồ du lịch là một câu chuyện dài.

Nho ngon và gốm đẹp

Nếu như tháp Poklongarai hay làng gốm Bàu Trúc nổi tiếng bao nhiêu thì hầu như những tour tham quan vườn nho ở Phan Rang ít người biết đến bấy nhiêu. Cũng giống như một số tuyến du lịch làng nghề, nhà vườn khác trên khắp cả nước, sản phẩm du lịch tham quan vườn nho và quy trình sản xuất rượu nho ở Phan Rang còn cần phải làm rất nhiều chương trình tiếp thị mới mong được nổi tiếng như nước mắm Phan Thiết.

< Thăm vườn nho, tìm hiểu cách trồng là một trải nghiệm thú vị.

Từ đầu năm 2012, nho Ninh Thuận đã được Cục Sở hữu trí tuệ cấp chứng nhận và bảo hộ chỉ dẫn địa lý, du khách có thể tìm kiếm các sản phẩm nho Ninh Thuận “chính hiệu” ở thị trấn Phước Dân, các xã Phước Thuận, Phước Sơn, Phước Hữu (huyện Ninh Phước) và xã Phước Nam (huyện Thuận Nam).

Nông trại nho Ba Mọi, mô hình trồng nho sạch được đưa vào khai thác du lịch khá nổi tiếng ở Ninh Thuận nhưng trong giới làm du lịch không phải ai cũng biết. Đứng từ cầu Mống trên sông Dinh, du khách sẽ thấy một nông trại trải dài khoảng 1,5ha, xanh mướt với điệp trùng nho. Ông Ba Mọi, người cao to, da đen bóng màu đặc trưng của những nông dân sống ở vùng đất nắng gió khắc nghiệt, tỏ ra rất am hiểu về nho.

Ông chủ nông trại nho Ba Mọi kể: “Những năm 1990, chất lượng nho Ninh Thuận nói chung còn rất kém, trái nhỏ, xanh, chát. Sau khi được Viện Kỹ thuật nông nghiệp miền Nam để mắt, giúp đỡ hướng dẫn kỹ thuật trồng, đưa chế phẩm sinh học và phân vi sinh vào thay thế các loại thuốc sâu, phân bón hóa học... nho Phan Rang cất cánh từ đó”.

Từ 1.000m² giống nho xanh NH 01.48 được đưa vào thử nghiệm, đến nay trang trại nho Ba Mọi đã nhân rộng lên đến 1,5ha. Để có được trái nho ngọt, giòn và một tí vị chua đặc trưng thuyết phục được du khách, người trồng nho nơi đây phải tuân thủ nghiêm ngặt quy trình kỹ thuật thay vì trồng theo thói quen như trước kia. Những vườn nho xanh mướt, trái chín mọng, ngọt lịm và khu sản xuất rượu vang... nay trở thành một điểm tham quan không thể thiếu trong tuyến du lịch tháp Poklongarai - làng gốm Bàu Trúc.

< Nhiều bạn trẻ chú ý đến sản phẩm gốm để làm quà tặng sau chuyến đi.

Du khách đến Phan Rang thường không thể bỏ qua làng gốm Bàu Trúc (thị trấn Phước Dân, huyện Ninh Phước). Làng gốm này là nơi sinh sống chủ yếu của đồng bào Chăm từ thế kỷ 12, được coi là làng gốm cổ xưa nhất Đông Nam Á. Cái đặc biệt của làng gốm Bàu Trúc là vẫn tuân theo phương thức sản xuất xưa cũ. Tất cả đều làm bằng đôi bàn tay khéo léo của người thợ từ lấy đất, nhào nặn, tạo hình cho tới nung gốm.

Đất lấy ở bờ sông Quao, sau đó nhào kỹ đến khi thật dẻo. Những phụ nữ Chăm tạo hình sản phẩm bằng cách cho đất lên một bệ đá hình trụ, mặt nhẵn, sau đó đi vòng quanh bệ đỡ để tạo hình dáng sản phẩm. Chính cách làm này đã tạo ra những sản phẩm “không giống ai”, trở thành những sản phẩm độc đáo.

< Trẩy hội Kate.

Thú vị nhất là khi đến đây, du khách được hướng dẫn và tự nhào nặn những sản phẩm bằng chính sự khéo léo của mình. Chúng trở thành vật lưu niệm đẹp của du khách không đâu có được.

Cần cách làm thuyết phục hơn

Đưa sản phẩm du lịch tham quan vườn nho, xem cách làm rượu vang và sản xuất gốm vào một tuyến tham quan là một sáng kiến hay, tạo sự khác biệt cho Phan Rang. Nhưng quả thật cách làm hiện nay vẫn khá đơn điệu dễ khiến du khách chán và coi việc đến đó như “lấy lệ” chứ chẳng có hứng thú tìm hiểu.

< Cách làm khác của gốm Bàu Trúc tạo ra sản phẩm đặc biệt.

Những ai từng đi Trung Quốc đều ấn tượng khi tham quan nơi dệt vải ở Quảng Châu bởi cách tổ chức rất thu hút của họ. Đầu tiên, từ cổng bước vào du khách sẽ được giới thiệu từ cách nuôi tằm, chờ đợi lấy tơ, đến công đoạn dệt, nhuộm ra vải thành phẩm, rồi may áo quần, xem biểu diễn thời trang rất chuyên nghiệp. Và cuối cùng là những gian hàng quần áo khổng lồ cho khách tha hồ lựa chọn. Hay đi du lịch Busan, Hàn Quốc du khách cũng sẽ tham gia một tour tham quan vườn táo tương tự nho ở Phan Rang.

< Lắng nghe âm điệu của người Chăm.

Cũng được tham quan vườn táo nhưng du khách được nghe giảng giải rất kỹ lưỡng về thổ nhưỡng ở đây để lý giải vì sao có những trái táo ngon nhất. Rồi tham quan nhà máy sản xuất rượu táo... Điều đặc biệt là trong lúc tham quan vườn du khách sẽ được chụp ảnh, sau đó khi kết thúc tour mỗi người được tặng một chai rượu táo mà nhãn dán trên chai là bức ảnh của chính du khách được chụp trước đó. Ai cũng bất ngờ, hài lòng và mua nhiều táo, nhiều rượu...

Nho hay rượu vang từ nho ở Phan Rang ngon và bổ dưỡng nhưng vẫn chưa được lựa chọn như một món quà thú vị mỗi khi du khách đến đây. Những sản phẩm gốm ở làng gốm Bàu Trúc đẹp và khác biệt, nhưng vẫn còn nhiều bất tiện cho du khách khi muốn mua về làm quà tặng. Để Phan Rang thành một điểm đến có lẽ còn rất nhiều việc phải làm.

Du lịch, GO! - Theo Tiến Thành (báo Tuổi Trẻ)

Thứ Bảy, 22 tháng 6, 2013

Phong Điền - ấn tượng một mùa dâu

Những ngày này, trên những con đường từ Cái Răng - Phụng Hiệp xuống Sóc Trăng, Cần Thơ - Mỹ Khánh vô thị trấn Phong Điền, Vĩnh Long qua Chợ Lách - Bến Tre, nhất là hai bên đường 91B, chỗ nào cũng bày bán đầy trái cây, nhiều nhất là dâu và chôm chôm vì đang thời điểm chính vụ. Ngoài đường chỗ nào cũng dâu, dâu  xanh, dâu vàng ngồn ngộn.

Đến Phong Điền, nhìn đâu cũng choáng mắt, dâu xuống phố, dâu lắt lẻo trên cây, dâu bồng bềnh theo chợ nổi, sắc màu tươi rói khiến du khách nào cũng cảm thấy háo hức khi vừa đặt chân đến vùng đất “Ba Láng, Vàm Xáng, Phong Điền. Anh có thương em thì cho bạc cho tiền. Đừng cho lúa gạo xóm giềng cười chê”...

< Vườn dâu khu du lịch Vàm Xáng.

Dâu miền Tây, ngoài dâu ta, dâu ngang, dâu rừng trên vùng Bảy Núi - An Giang, giá trị kinh tế không cao còn có nhiều giống đặc sản, chất lượng thơm ngon như dâu Hạ Châu, dâu bòn bon, dâu xiêm, dâu xanh đường, dâu xanh gia bảo…

Có thể nói huyện Phong Điền, TP Cần Thơ là nơi nổi tiếng nhất về dâu Hạ Châu, một giống dâu được tuyển chọn, nhân giống từ năm 1960 đến nay. Loại này có ruột màu trắng sữa, ngọt thanh, pha chút chua dịu, phẩm chất vượt trội, thường xuất sang Campuchia. Tính đến nay Phong Điền có trên 150ha trồng loại dâu này.

< Bòn bon Phong Điền.

Ngoài ra, giống dâu xanh và dâu bòn bon cũng thuộc hàng “á hậu” ở vùng đất Phong Điền. Ông Trần Văn Tư ở Ba Láng có 120 cây dâu bòn bon đang sum sê, cây nào cũng chi chít trái, vàng ươm, chín mọng, trông thật ấn tượng. Ông cho biết dâu bòn bon vỏ mỏng, múi tròn đầy, mùi vị thơm ngon, ngọt dịu, chua nhẹ, giá cả ổn định.

Còn dâu xanh là loại dâu khi chín trái vẫn xanh, múi to, mùi thơm ngon và ngọt hơn dâu bòn bon vỏ vàng. Dâu xanh cũng có hai loại, một loại trái tròn, không núm, màu xanh đậm gọi là dâu gia bảo; một loại có núm, trái nhọn, ngọt đậm đà gọi là dâu đường.

< Đặc sản du lịch mùa hè.

Rong ruổi trên con đường làng yên ả, thuộc xã Nhơn Ái - Phong Điền, tình cờ thấy các cô gái đang hái dâu miệng tủm tỉm cười, tôi chợt nhớ đến hai câu thơ trong một bài ca tân cổ Chuyện mùa dâu chín: "Quanh năm bên xóm nghèo, em canh giữ cho vườn dâu xanh... ". Dâu gắn bó đến vùng đất này như vậy đấy.

Hiện nay tại Phong Điền có nhiều vườn du lịch nổi tiếng như vườn du lịch Mỹ Khánh, vườn du lịch Giáo Dương… Đặc biệt vườn du lịch Mỹ Khánh vào dịp hè phục vụ rất nhiều đặc sản đồng quê, nhiều loại trái ngon, nhiều nhất là dâu.

< Dâu xanh Phong Điền.

Riêng vườn trái cây Vàm Xáng (ấp Nhơn Lộc I, thị trấn Phong Điền) là điểm tham quan hấp dẫn nhất trong mùa hè nhờ có nhiều loại cây ăn trái, nhiều món ăn dân dã đặc trưng của vùng sông nước miệt vườn. Tại đây, khách tham quan chỉ cần mua vé 25.000 đồng/người vào cổng đã tha hồ dạo chơi, câu cá, dỡ chà, tát mương hoặc tổ chức nấu ăn tập thể. Ngoài ra, khách còn được ăn trái cây miễn phí, có chỗ nghỉ ngơi, thư giãn thoải mái.

< Dâu Hạ Châu.

Mùa dâu Phong Điền sẽ kéo dài đến hết tháng 6, riêng dâu Hạ Châu qua hết tháng 8 vẫn còn lủng lẳng trên cành. Nhờ vậy mà Phong Điền vẫn tiếp tục thu hút khách, đông nhất là đối tượng sinh viên học sinh và khách nước ngoài.

Đến Phong Điền ngoài việc thưởng thức trái ngon ngọt ngào, du khách còn có dịp tham quan chợ nổi, các khu di tích lịch sử và dừng chân ở các nhà vườn - điểm xanh du lịch, nơi có cuộc sống yên ả và thanh bình.

Sau một ngày rong chơi, giải trí, bạn sẽ có dịp thưởng thức nhiều loại trái cây, cùng trải nghiệm cuộc sống lam lũ, cần cù của bà con nông dân, những con người hiền hòa, hiếu khách và thân thiện.

Du lịch, GO! - Theo Hoài Vũ (Du lịch Tuổi Trẻ)

Thứ Ba, 18 tháng 6, 2013

Về Bát Tràng mà đi... xe trâu

Làng gốm - làng du lịch Bát Tràng (Gia Lâm - Hà Nội) lâu nay đã được nhiều người dân trong và ngoài nước biết tới bởi các sản phẩm gốm sứ truyền thống tinh xảo và sản phẩm du lịch mới độc đáo.

Du khách trong và ngoài nước khi đến Bát Tràng đều cảm thấy thích thú khi được đi trên những cỗ xe do trâu kéo thư thả tham quan làng nghề.

Chiếc xe được đóng chắc chắn bằng gỗ, bộ chuyển động được dùng từ bộ bánh hơi của xe ô tô. Mỗi khi đủ khách là xe chạy (khoảng gần chục người, người nước ngoài 5USD/người, người Việt thường thuê xe theo chuyến với giá 100.000 đồng/chuyến). Điều khiển xe là một người “quản trâu“.

Chỉ cần nghe những tiếng “vắt“ vào là rẽ trái, “họ“ là dừng lại, “ra này“ là rẽ phải. Chú trâu như hiểu được “tiếng người”, nên lúc thì rẽ trái, rẽ phải, dừng lại cho khách mua hàng, hay chụp ảnh răm rắp theo hiệu lệnh.

Ý tưởng dùng xe trâu để phục vụ khách du lịch Bát Tràng là của giám đốc trẻ Nguyễn Minh Hải, sinh năm 1970, người làng Bát Tràng. Đi lên từ đôi bàn tay trắng, anh Hải đã mạnh dạn đầu tư kinh doanh gốm sứ - nghề truyền thống lâu đời của làng quê. Ý tưởng “du lịch xe trâu” đã được anh ấp ủ từ nhiều năm nay. Anh lặn lội lên miền ngược để “tuyển lựa“ một đôi trâu mộng, rồi về dày công huấn luyện để chúng ngoan ngoãn làm việc. Anh bảo hồi đi học cấp 3 đã từng nghe câu thơ của một thi sĩ: “Những đàn trâu Việt Bắc béo tròn/Đủng đỉnh về nơi quê hương mới lạ”.

Ngờ đâu, lớn lên được chứng kiến cảnh này thật thú vị. Trâu xuống núi rồi về Bát Tràng tập ăn cỏ trên triền đê, ăn mía, ăn cám... thay cho thức ăn trước đây ở vùng sơn cước. Rồi chúng làm quen với tiếng còi ôtô, xe máy... Những hôm trời rét, trâu còn được phủ lên lưng một tấm chăn ấm... Xe trâu giờ đây đã trở thành một hình ảnh thân quen đối với du khách khi đến Bát Tràng tham quan.

Bên cạnh sự đổi thay sầm uất của một làng nghề truyền thống, cỗ xe trâu vẫn cần mẫn đi về như tô đậm thêm bức tranh làng quê trong thời kỳ đổi mới, bắt đầu từ ý tưởng và tình yêu quê hương của một anh “trai làng”.

Du lịch, GO! - Theo An Ninh Thủ Đô + YuMe... và nhiều nguồn ảnh khác.

Thứ Hai, 17 tháng 6, 2013

Về xứ sở vải thiều

Vải thiều Lục Ngạn (Bắc Giang) đang chính vụ và ùn ùn xuống phố, nhưng chúng tôi vẫn muốn vào tận sâu các bản làng vùng cao của xứ sở này để được trải nghiệm cảm giác làm một nông dân thứ thiệt.

< Vải thiều ùn ùn xuống phố gây tắc đường.

Giữa cái nắng rát bỏng ngày hè, quốc lộ 31 (đoạn từ phố Kim đến thị trấn Chũ, huyện Lục Ngạn) như ngột ngạt hơn bởi đường sá ùn tắc và cảnh ồn ào tranh mua tranh bán. Trên các con phố chính, nhìn đâu cũng thấy xe chở vải, từ xe máy đến xe tải, thậm chí nhiều đoạn đường tắc nghẽn.

Những ngày này, chỉ cần bỏ ra vài chục ngàn đồng là đã có thể thoải mái thưởng thức những trái vải thiều tươi ngon nhất ngoài chợ. Tuy nhiên giá cả, sự an nhàn không phải là lý do chính khiến cả nhóm háo hức tìm đến Lục Ngạn. Đơn giản bởi ai cũng thèm tận hưởng những giây phút thú vị khi ăn trái vải do chính tay mình hái hoặc trải nghiệm cùng bà con thu hoạch vải thiều. Và một chuyến rong chơi cuối tuần đến các khu rừng bát ngát quả ngọt là lựa chọn mới.

< Người dân Lục Ngạn thu hoạch vải.

Bắc Giang hiện có hơn 30.000 ha vải thiều, trong đó riêng huyện Lục Ngạn có khoảng 20.000 ha. Mỗi năm người dân Lục Ngạn thu được một lượng lớn tiền từ bán vải thiều nhưng việc biến những vườn vải này thành một sản phẩm du lịch để có thêm một phần thu nhập từ phát triển dịch vụ, du lịch ở nơi đây thì chưa ai nghĩ tới.

Con đường đất đỏ ngoằn ngoèo, hun hút như “ma trận” nhưng lại rất thân thiện, hai bên được tô điểm bởi những gam màu đỏ tươi của vải thiều đang độ chín mọng. Hành trình từ Chũ đến thôn Bến Huyện, xã Nam Dương mất nhiều thời gian hơn bởi thỉnh thoảng các bạn tôi lại dừng xe chụp ảnh và tiện tay bứt một vài trái vải ăn ngay bên vệ đường mà chẳng hề lo sợ gia chủ la mắng, phàn nàn.


< Vải được bó gọn chuẩn bị đi bán.

“Cây nhà lá vườn ý mà, các cháu ăn bao nhiêu cứ lên cây mà hái, chỉ sợ ăn nhiều quá người sẽ phát ban lên thôi” - bác Diệp Văn Thành, chủ vườn vải rộng hơn 10 ha ở Nam Dương, xởi lởi mời. Có lẽ thiên nhiên ưu đãi, cây trái sum suê đã tạo nên sự hào phóng, cởi mở của người dân nơi đây.

Giữa mênh mông, bát ngát rừng vải, những ngôi nhà cao tầng nổi lên thật ấn tượng. Không cần giới thiệu ai cũng hiểu chính cây vải thiều đã mang lại cho bà con cuộc sống khá giả. Vì thế mà loài cây này đã từng một thời được mệnh danh là “cây làm giầu” ở Lục Ngạn.

Bác Thành cho biết thêm cây vải thiều có nguồn gốc ở Thanh Hà (Hải Dương) nhưng so về diện tích, chất lượng thì lâu nay mọi người vẫn nhắc nhiều đến Lục Ngạn (Bắc Giang) với biệt danh “vương quốc vải thiều". Trung bình mỗi vụ, mỗi hộ thu được vài chục triệu đồng, thậm chí đến vài trăm triệu đồng là chuyện không hiếm gặp ở đây.


< Khách du ngoạn trải nghiệm công việc thu hoạch vải.

Chúng tôi đi bộ xuyên từ vườn nhà nọ sang nhà kia mà không hề biết ranh giới của sự phân chia, các hàng rào ngăn cách nhau cũng thật đơn giản, một gờ đất hay những rãnh nước chảy.

Vải thiều chín mọng chi chít, đi không khéo có thể chạm đầu vào quả vải. Tiếng í ới, trò chuyện của những người dân thu hoạch vải khuất trong những lùm cây. Giữa thiên nhiên khoáng đạt, bất chợt ngân vang một câu hát soong hao của dân tộc Nùng thật trữ trình, tha thiết.

Theo người dân nơi đây, năm nay vải thiều năng suất sụt giảm so với năm ngoái do thời tiết, sâu bệnh. Tuy nhiên, nhiều bà con vẫn phấn khởi bởi giá vải thiều giữ mức ổn định từ 15.000-25.000 đồng/kg mua tại vườn. Và không chỉ có thiên nhiên bao la khoáng đạt, không gian yên ả, thanh bình mà cả sự trù phú, no ấm là điều mà những ai đến Lục Ngạn đều cảm nhận được.

< Mùa vải của trẻ em Lục Ngạn.

Sau một buổi sáng rong chơi trong vườn vải, buổi chiều nhóm chuyển hướng đi thăm các khu hồ nước nổi tiếng ở Lục Ngạn là hồ Khuôn Thần và Cấm Sơn. Cảm giác được tắm táp giữa dòng nước mát lạnh nơi rừng núi bao la thật mát mẻ, trong lành.

Mùa vải thiều chín còn kéo dài đến hết tháng 7, Lục Ngạn sẽ còn tiếp đón nhiều đoàn khách thích rong chơi...

Sắc vải Bắc Giang

Du lịch, GO! - Theo Hồng Ngoan (báo Tuổi Trẻ)

Thứ Bảy, 15 tháng 6, 2013

Là lạ cái nghề... “vuốt tai”

Như nhiều người cùng quê Quảng Ngãi, Nguyễn Thị Mơ vào Phan Thiết  tìm việc làm. Mấy tháng đầu Mơ gánh cá thuê ở Cảng cá Cồn Chà. Rồi khi  cá ít mà người gánh lại đông, cô thường ngồi không nhiều ngày.
Nghe người quen mách bảo, Mơ lên xã Mương Mán, huyện Hàm Thuận Nam tìm việc. Phúc đức thế nào mà cô gặp chị Nguyễn Thị Huyền, chủ của một vựa thanh long lớn, người cùng quê. Chị Huyền khuyên Mơ học nghề vuốt tai thanh long  vì nghề này đang lúc thịnh. Buổi sáng mở mắt ra đã có người kêu công.

Thoạt đầu, Mơ phân vân: Vuốt tai là thế nào? Nó có giống như mấy cô gái mười tám, mười chín, mặc váy ngắn củn cỡn,  lúc nào cũng ngồi khép đùi, tay thì ráy ráy, cạo cạo tai cho mấy ông trong tiệm hớt tóc nhưng bộ ngực thì như dán vào vai  người ta  mà  đôi lần trên đường đi làm về Mơ trông thấy?

Chị Huyền sau đó phải giải thích: “Vuốt tai là làm cho tai của trái thanh long giữ  được màu xanh, cho dù trái hái đã khá lâu, cũng như khi ra đến chợ đường biên”.

Rồi để cô gái cùng quê tin, chị Huyền khẳng định: Chưa có máy móc nào thay con người vuốt tai thanh long, trừ khi các nhà khoa học sáng chế ra một loại thuốc bón vào gốc nhưng có khả năng làm xanh tai của thứ quả có tên gọi rồng xanh. Khi thấy Mơ có vẻ thuận, chị Huyền  gởi Mơ cho một người vuốt tai chuyên nghiệp ở xã Hàm Thạnh cùng huyện để cô học nghề.

Vuốt tai

Những ngày giữa tháng 6 này, Mơ đã thành nghề. Cô đi vuốt tai ăn công trong phạm vi mấy xã:  Mương Mán, Hàm Thạnh… thảng hoặc có người còn kêu cô ra Hàm Kiệm, một xã ven quốc lộ 1A  để  làm nghề. Mơ  kể,  từ tháng 4 đến nay gần như đi làm suốt  tháng,  ít có ngày ở nhà  vì  người yêu cầu vuốt tai thanh long quá  đông.

Còn tôi, trước một người bạn từng gánh cá thuê nay có việc làm, thu nhập ổn định đã không giấu được sự tò mò, muốn biết nghề vuốt tai là như thế nào? Chúng tôi hẹn nhau là sẽ đến tận vườn trông Mơ vuốt tai. Điểm hẹn là vườn thanh long  của ông Thiện ở dốc Sỏi xã Hàm Hiệp, huyện Hàm Thuận Bắc.

Đúng hẹn, Mơ cùng vài người nữa đi xe máy tới. Tất cả đều bịt mặt, đội mũ mềm, vì vậy nếu họ không mở khăn ra thì suốt buổi vẫn không biết ai trong họ đẹp  xấu thế nào. Vườn thanh long của ông Thiện rộng trên 1 ha.  Vào việc, các cô dàn thành hàng ngang, mỗi người đảm nhiệm  một bề chừng 5m với vài hàng trụ thanh long.

Mỗi người cứ theo khoảng cách đó tiến dần lên cho  tới  giới hạn cuối cùng của khu vườn. Trên cổ tay trái của từng cô, đều đeo  một chiếc chai nhựa nhỏ màu xanh lá cây mà đầu nút chai được đục lỗ, để chỉ cần nghiêng nhẹ, nước bên trong đã chảy ra. Mơ giải thích: Đó là những chiếc chai đựng thuốc tăng trưởng do chủ vườn thanh long cung cấp. Ở tay phải còn lại, mỗi cô  đều mang  một chiếc găng tay  vải sợi dày. Hầu như chiếc găng tay nào cũng  lấm láp và ố bẩn.

“Bọn em mang găng tay là để chấm thuốc tăng trưởng. Thuốc sẽ dính vô vải thay vì dính vô da tay”- Mơ  nói nhanh.  Rồi để tôi  chứng kiến tận mắt, Mơ bước tới một trụ thanh long đầy trái chín. Một tay cô nghiêng chiếc chai, một tay cô đặt ngón trỏ lên miệng chai để nước thuốc tăng trưởng chảy ra thấm vào vải. Sau đó, bằng  những ngón còn lại của  bàn tay phải, Mơ nâng từng trái thanh long lên, dùng đầu ngón tay trỏ  vuốt nhẹ lên từng tai của trái.

Mỗi trụ thanh long  có đến 15 - 20 trái. Các cô không ai bảo ai đều thoăn thoắt cúi, thoăn thoắt vuốt, thoăn thoắt di chuyển  quanh từng trụ, tiến về phía trước, cũng như không ai nói với ai điều gì, ngay cả khi  một hai cô vì  bước gấp gáp, chạm người nhau.

Trò chuyện

Gần trưa, chiếc áo Mơ mặc trên người  ướt đi một mảng trên phía lưng, và những cô khác cũng đã mệt sau cả mấy giờ liên tục di chuyển. Không hẹn, song  các cô đều tập trung về một bụi cây có bóng mát gần đó, nghỉ giải lao. Mơ nói với tôi sau khi tháo khăn bịt mặt và cởi găng tay: “Anh thấy đó: Vuốt tai tưởng là việc nhẹ nhàng, nhưng thật ra rất mệt. Trong khi vuốt phải tập trung, không để ngón tay có thuốc kích thích chạm vào bất cứ phần nào trên (da) trái vì như vậy vài ngày sau trái sẽ xuất hiện đốm. Vườn nào nhiều trái đốm thì giá bán rất thấp.

Đang lúc Mơ trò chuyện,  người phụ nữ ngồi bên cạnh chêm vào: “Chủ vườn thanh long coi việc có nhiều hay ít trái bị đốm mà đánh giá tay nghề của thợ. Thợ giỏi thì không bao giờ thiếu việc”. Tôi hỏi  Mơ: “Giữa nam và nữ, ai vuốt nhanh hơn?”. “Đàn ông làm nhanh nhưng nhiều người bộp chộp, không cẩn thận. Phụ nữ chậm một chút nhưng vuốt cái nào ra cái đó… hè hè...”. Người phụ nữ bên cạnh Mơ chen vào  nói rồi tủm tỉm cười.

Tôi vờ như không biết ý nghĩ nghịch ngợm của chị để tiếp tục trò chuyện. Tựu chung, Mơ kể một cách một cách vắn tắt như sau: Tai thanh long là phần nhô ra  trên bề mặt da của từng trái. Mỗi trái có từ 15 - 22  tai. Khi trái còn xanh,  người  vuốt tai chỉ cần vuốt từ nửa trái trở lên. Nếu thanh long chín đỏ, phải vuốt gần như hết cả số tai trên trái.

Các cô  không biết ai là người đầu tiên nghĩ ra cái việc vuốt tai thanh long, song khẳng định nghề vuốt tai có hơn  chục năm trên đất Bình Thuận. Những người như Mơ được chủ vườn khoán 80.000 đồng cho  một thiên (1.000) trái.

Một khu vườn rộng 1ha, sản lượng từ  8.000 - 10.000 trái,  phải thuê từ 3 - 4 người vuốt/lần. Mỗi năm, thanh long thu hoạch từ 8 - 10 lần trái. Mỗi lứa trái khoảng hai tháng rưỡi, vì vậy nơi nào nhiều thanh long thì thợ vuốt tai gần như không hết việc.

Nghề vuốt tai kiêng người thấy nắng chóng mặt, thấy mưa sụt sùi. Chuộng người có tính kiên trì và lẹ mắt, đặc biệt thích hợp với nữ giới. Hiện nay, tại mỗi nơi trồng thanh long đều có đội ngũ vuốt tai chuyên nghiệp.

Buổi trưa hôm ấy, Mơ và  bạn bè  đã  vuốt thông tầm  để kết thúc công việc   trước 3 giờ vì sợ mưa chiều. Những trái thanh long trong khu vườn nhờ đó sẽ kéo dài sự tươi xanh cho đến khi không còn có thể. Những người vuốt tai hôm sau lại tiếp tục làm đẹp cho những khu vườn khác, nhưng cao hơn cả, nó làm cho từng người, từng lao động chân chính cảm thấy niềm vui vì được đóng góp cho đời, cho cuộc sống bởi một công việc tưởng chừng đơn giản nhưng rất kén người.

Du lịch, GO! - Theo Hoàng Hạc (Bình Thuận Online), ảnh internet.

Thứ Ba, 11 tháng 6, 2013

Về Khe Mo xem hái chè

Một ngày đầu năm 2013, để mục sở thị, chúng tôi hành quân về mảnh đất Thái Nguyên - cái nôi khởi nguồn tạo nên chè nổi tiếng Việt Nam.

Trên chiếc xe máy lượn theo con sông Cầu, từ Hà Nội về TP. Thái Nguyên chỉ mất gần một tiếng đồng hồ. Từ TP. Thái Nguyên, chúng tôi tiếp tục khám phá miền đất trung du thấm đậm tình đất, tình người - xã Khe Mo, huyện Đồng Hỷ.

Nhiều người nói, nếu đến Thái Nguyên mà không ghé ngang thăm đồi chè thì chưa thấy cái thơ mộng của gốc chè, lá chè, hoa chè và sự tảo tần của những bàn tay khéo léo của người dân nơi đây. Trời xế chiều, chút nắng vàng muộn màng đổ bóng xuống đồi chè bát ngát. Chúng tôi tạm dừng xe bên sườn dốc để chụp ảnh mấy cô thiếu nữ đang hái chè.

< Thiếu nữ Đinh Thị Trang ở xóm Khe Mo, xã Khe Mo (Đồng Hỷ, Thái Nguyên) cùng mọi người đang mải mê hái chè.

Thiếu nữ Đinh Thị Trang, xóm Khe Mo, xã Khe Mo, huyện Đồng Hỷ nói vọng xuống: “Các chú ở dưới đó chỉ ngắm nhìn sẽ không thấy thú vị được nét đẹp lung linh của đồi chè. Muốn chụp được ảnh đẹp và tận hưởng hương vị chè xanh phải leo lên đây...”. Leo lên lưng chừng đồi, mặc dù thấm mệt, trán đẫm mồ hôi nhưng tiếng mời gọi trong trẻo, thiết tha của thiếu nữ khiến chúng tôi quên hết mệt nhọc.

Nhiều người sành chè nói, người Trung Hoa tự hào có các vùng chè nổi tiếng, như: Hồ Nam, Hồ Bắc... thì người Việt Nam tự hào có vùng chè Lâm Đồng, Yên Bái, Phú Thọ...

Nhưng ngon nhất, nổi tiếng nhất vẫn là chè Thái Nguyên. Chè Thái Nguyên mang hương vị đậm đà của núi rừng trung du, nó có vị chát của nắng và vị ngọt hậu sâu lặng của tình nghĩa con người, nên những ai sành ẩm đều có cảm mến, lưu luyến với hương chè Thái Nguyên.

Chia tay đồi chè cùng những người dân ở Khe Mo, chúng tôi cảm nhận sâu đậm tình người đã thấm đậm vào đất để tạo nên hương vị độc nhất vô nhị vị chè Thái Nguyên.

Du lịch, GO! - Theo báo Lao Động, ảnh internet

Thứ Tư, 5 tháng 6, 2013

Đi tìm lộc của Trời

5 giờ sáng, chúng tôi leo lên chiếc ghe máy của anh Lê Văn Dũng (tự Bôn, sinh năm 1987, ngụ ấp Vĩnh Quới, xã Vĩnh Thạnh Trung, Châu Phú, An Giang). Dòng sông còn ngủ yên trong ánh bình minh vừa hé, nên con nước dịu dàng đưa chiếc ghe xa bờ. Chúng tôi bắt đầu cuộc hành trình đi tìm “lộc của trời”…

Nói hoa mỹ thì vậy, còn nôm na là chúng tôi theo anh Dũng đi… cào hến. Từ bấy lâu nay, con hến nhỏ bé ấy đã trở thành nguồn sống dồi dào của hàng chục hộ dân ven dòng sông Hậu, khu vực ấp Vĩnh Quới này. “Ngày xưa, cha tôi được gia đình “truyền” lại nghề bắt cua mò ốc dưới đáy sông. Thời điểm ấy, ốc nhiều vô kể, đủ nuôi sống cả chục miệng ăn.

Trong những buổi bắt ốc, cha tôi cào được hến nữa, nhưng ông thả chúng xuống sông, vì ông nghĩ chúng chẳng bán được bao nhiêu tiền. Dần dần, ốc trở nên khan hiếm. Ông lại lặn lội mò hến để kiếm miếng cơm, và đánh đổi bằng sức khỏe của chính mình.

Năm 12 tuổi, tôi quyết định nghỉ học, xuống sông phụ giúp cha. Tôi không đành lòng nhìn ông nai lưng ra làm lụng vất vả như vậy. Đến bây giờ, tôi đã có 15 năm trong nghề, gắn bó với con hến đến mức không thể dứt ra được. Nhiều lần, tôi muốn chuyển sang nghề khác, nhưng không quen. Làm thuê trên bờ, tôi bị mất sức dữ dội. Kỳ lạ thật. Có lẽ, cào hến đã thành cái nghiệp của tôi mất rồi” – anh Dũng bắt đầu câu chuyện.

Phía bên cạnh, anh Lê Văn Hiền (sinh năm 1992, em ruột Dũng) chăm chú điều khiển ghe. Tiếng ồn của động cơ buộc chúng tôi phải leo lên mui ngồi trò chuyện, nghe những cơn gió đầu ngày ùa vào tóc. Anh Dũng kể, mùa cào hến kéo dài từ tháng 8 âm lịch đến giữa năm sau. Lúc cao điểm được giá, hến nguyên vỏ được thương lái mua 2.000 đồng/kg, hến quậy (tức hến luộc bỏ vỏ, theo từ trong nghề - PV) có giá 15.000 đồng/kg.

Hết mùa, hến ít đi, nhưng giá cũng tuột xuống vài nghìn đồng/kg – cái nghịch lý của nghề là vậy. Những lúc đắt, mỗi ngày gia đình anh kiếm vài trăm nghìn dễ như bỡn. Nhưng đến lúc ế lay ế lắt, anh cũng buộc phải quần nát con sông Hậu, kiếm được mớ nào hay mớ đó, vừa để giữ mối với thương lái, vừa có đồng ra đồng vào, vừa đỡ buồn chân tay.

“Nhiều người thấy cào hến có lời quá, họ sắm sửa khoảng 40 triệu là có thể “ra nghề”. Nhưng đi cào hến rồi, mới thấy nghề chua chát lắm, phải kiên trì mới sống được. Có nhiều khi tụi tôi phá huề, đi về không có hến, lỗ luôn tiền xăng dầu. Mình phải chấp nhận đi xa, tới tỉnh này tỉnh khác, miễn có hến là được. Quần quật từ khuya đến 9-10 giờ tối, buông tay ra là người mệt rã rời. Khoảng 40 tuổi, sức yếu là phải bỏ nghề. Đâu phải hưởng lộc trời là an nhàn?” – anh Dũng vuốt lại mái tóc, nhìn xa xăm.

7 giờ sáng, chúng tôi đến khúc sông Hậu khu vực xã Châu Phong (thị xã Tân Châu). Anh Dũng chui vào lòng ghe, mở nồi cơm và ít đồ ăn vẫn còn ấm: “Bữa sáng của anh em tôi nè! Ngày nào cũng vậy, giờ này tụi tôi ăn một lần, đến trưa cào hến xong mới ăn nữa. Làm nghề này cần  sức dữ lắm”.

Sau khi đã xong bữa, cả hai bắt đầu chuẩn bị đồ nghề, thay quần áo, đeo găng tay rất cẩn thận, đề phòng bị hến cắt. Chuẩn bị thả lưới, chợt một chiếc ghe cào hến khác chạy trờ đến, bỏ nhỏ: “Khúc này hết rồi, cào không có đâu! Đi theo tui, tui mới phát hiện có chỗ còn nhiều lắm. Mấy bữa nay, thằng T. nó lén cào, trúng mánh quá trời”. Anh Dũng vội lui ghe, theo sau chiếc ghe kia.

Thấy chúng tôi lấy làm lạ vì mẩu đối thoại, anh xoa đầu: “Thật ra, trong nghề nào cũng cần phải có mánh mung. Nghề cào hến tụi tôi sống nhờ lộc trời sinh. Nhưng ai cũng đổ xô đi cào, riết rồi hến không còn bao nhiêu. Để có miếng ăn, tụi tôi phải biết cách giấu “chỗ làm ăn” của mình, nếu để “bể” ra là coi như đói. Người ta đi cào từ lúc 3-4 giờ sáng, anh em tôi thì 5 giờ mới thủng thỉnh xuống ghe đi. Nhưng lúc nào số lượng hến tụi tôi cào được lại nhiều hơn họ.

Những ngày cao điểm, tụi tôi chở về 40-50 giạ là bình thường (1 giạ khoảng 35kg). Thấy vậy, họ cũng theo dõi coi mình đi đâu. Tụi tôi chạy khoảng một đoạn, rồi tấp nhanh vào khúc cua nào đó trốn, đến khi họ đi khuất mới trở ra. Tuy nhiên, cạnh tranh thôi vẫn chưa đủ. Mình phải biết quan sát xem chỗ nào có hến, đánh dấu và “dưỡng” nó.

Dân trong nghề, chỉ cần nhìn con hến là biết nó ở vùng nào, nhờ đặc điểm vỏ hến. Nhưng cả một khúc sông rộng, nhiều khi mình kiếm không kỹ sẽ chẳng thấy. Hến thường nằm cách bờ tối đa vài chục mét, nhưng có khi chỉ vài mét, phải quan sát và phán đoán mới chính xác được.

Công sức mình đổ ra nhiều như vậy, chỉ cần bị ai đó hớt tay trên là vất vả vô cùng. Đâu phải ai cũng biết nương tựa vào nhau mà sống đâu… Chỗ anh bạn mới chỉ là địa điểm người ta cào xong rồi, bỏ đi chỗ khác. Mình chạy tới, coi còn mót được chút nào không!”.

8 giờ sáng, anh Dũng và Hiền bắt đầu quăng mẻ lưới đầu tiên. Anh Dũng ngồi điều khiển ghe và ròng rọc thả lưới. Hiền đứng bên cạnh chiếc lưới, thi thoảng lắc mạnh để lường số lượng hến. Sau vài vòng đảo ghe nhanh, gắt, anh Dũng vội kéo lưới lên, cùng Hiền đổ vào ghe. Trời bắt đầu nắng gắt, “mồ hôi mẹ mồ hôi con” thi nhau túa trên thân hình của hai người thanh niên, nhưng vẫn không làm chậm công việc của họ.

Các động tác thả, đạp, cào, kéo, quăng, sàng lưới… được thực hiện nhịp nhàng, nhanh gọn, không một động tác thừa. Gần 3 tiếng sau, họ buông tay. Hến đã nằm gọn 2/3 ghe, với khoảng 20 giạ. Cả hai nhảy xuống sông, đắm mình trong dòng nước mát, đùa: “Thấy tụi tôi cào hến có giống ăn cướp không? Phải nhanh tay mới kịp con nước, mới kịp về nhà. Mình hơn mấy người trong nghề ở chỗ đó”.

Khi quay trở lại ghe, anh Dũng bốc một nắm hến trong tay, mỉm cười: “Bữa nay hến đẹp quá! Mình đi mót của người ta, được vầy là quá ổn!”. Mùi nồng nồng của hến chợt trở nên dễ chịu…

2 giờ chiều, chúng tôi trở về đến điểm xuất phát. Và đấy cũng là thời điểm bắt đầu một chuỗi công việc khác của xóm hến. Đàn ông phụ trách rửa hến, vác lên nhà. Phụ nữ ngồi quậy hến, lựa vỏ, hoàn thành các công đoạn cuối để đợi thương lái đến lấy. Tính ra, 1 giạ hến thành phẩm phải tốn 2.500 đồng tiền công, tạo công việc làm thêm cho nhiều lao động nhàn rỗi trong xóm.

Kết thúc chuyến đi, chúng tôi được anh Dũng và nhiều người dân ấp Vĩnh Quới mời dùng bữa cơm, dĩ nhiên là không thể thiếu món hến. Hến luộc, gói bánh tráng, chấm nước mắm, thấy vị ngọt tan mềm trong miệng. “Lộc của trời” ngọt ngào là thế, nhưng sao có chút mặn đắng ở đâu đây?

Theo Trưởng ấp Vĩnh Quới Nguyễn Văn Hạnh, hiện ở xóm hến có 30 hộ dân làm nghề cào hến. Tuy nhiên, do công việc trở nên khó khăn, nhiều người đã bỏ nghề. Ngoài việc hến ngày càng ít đi, người dân lại đối mặt với vấn đề tìm nguồn vốn để duy trì công việc, hoặc để chuyển sang nghề khác ổn định hơn.

Du lịch, GO! - Theo KHÁNH HƯNG (An Giang Online), internet

 
Bếp từ, Bep tu, Bếp từ giá rẻ, Bếp từ hồng ngoại, Bếp từ đôi, Bếp điện từ, Bếp hồng ngoại, Bep hong ngoai