Kênh thông tin giải trí hàng đầu

Tin tức trong nước 24 giờ qua được cập nhật thường xuyên và nóng hổi

Cùng tim hiểu, khám phá những dang lam thắng cảng Việt

Những Danh lam thằng cảnh tuyệt đẹp, nơi sưu tầm những danh lam thắng cảnh đẹp nhât hiện nay

Những khu du lịch sinh thái đẹp nhất

Du lịch Việt, Những danh lam thắng cảnh đẹp nhất

Du lịch Biển đẹp

Tham gia những tuor du lịch tới mọi miền thế giới

Khám phá thiên Nhiên kì thú

Cùng tham gia khám phá những bí ẩn thiên nhiên kì thú

Hiển thị các bài đăng có nhãn Di tích lịch sử. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Di tích lịch sử. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 19 tháng 6, 2013

Lên chơi tháp Nhạn

Mang đặc trưng của kiến trúc Chăm cổ, tháp Nhạn là điểm dừng chân của nhiều du khách khi đặt chân đến Phú Yên. Vị thế đắc địa – nằm trên đỉnh một ngọn núi nhỏ ngay giữa trung tâm thành phố Tuy Hòa, ngọn tháp cổ kính này càng thêm thơ mộng.

Tháp Nhạn ở Phú Yên gần giống như cụm tháp Bà ở Nha Trang. Điều rất lạ là lòng tháp hoàn toàn không có bệ thờ và tượng thần linh như các ngọn tháp khác dọc theo dải đất miền Trung. Theo các tài liệu, tháp này có tuổi thọ lên đến ngàn năm tuổi. Phần thân tháp được chia làm ba phần tượng trưng cho trần tục, tâm linh và thần linh trong tín ngưỡng người Chăm.

Kiến trúc được thiết kế và xây dựng hài hòa, thanh thoát. Càng lên cao, tháp càng nhỏ dần, trông rất vững chãi và chắc chắn mặc dù người ta không nhìn lấy hồ, keo kết dính các viên gạch lại với nhau. Cùng với Linga trên đỉnh tháp, các nhà nghiên cứu cho rằng hình dáng tháp cho thấy đây là tháp thờ Linga của người Chăm cổ. Điều đó lý giải tại sao tháp không có bệ thờ hay tượng khác bên trong.

Tên tháp Nhạn lấy từ tên ngọn núi xây dựng tháp. Ngọn núi cao khoảng 60 mét xưa kia có rất nhiều chim nhạn sinh sống. Nhìn từ trên cao, hình dáng quả núi như chim nhạn xòe cánh. Người dân Phú Yên rất tự hào về vùng đất này.

Nhắc đến núi Nhạn, người ta nhắc đến sông Đà – tên gọi rút ngắn của sông Đà Rằng chảy qua lòng thành phố Tuy Hòa. Đó là vùng đất thơ, làm xao xuyến bao thi sĩ qua nhiều thế hệ. Nhà thơ Trường Xuyên thời tiền chiến đã từng đi qua đây và viết: “Sông Đà mây nước trôi ngày tháng/Chia biệt còn lưu mấy nhịp cầu/Dưới nguyệt đi về thương bóng lẻ/ Ngùi ngùi non Nhạn gió đưa thu”.

Từ đỉnh núi Nhạn, du khách có thể thấy toàn cảnh thành phố Tuy Hòa. Phía kia là núi Chóp Chài. Xa hơn nữa là ngọn núi Đá Bia nổi tiếng. Phố xá trải dài dọc theo bờ biển tuyệt đẹp. Dưới chân núi là dòng sông Đà thơ mộng chảy ngang.

Đoạn qua thành phố, mặt rộng sông có hơn ngàn mét. Người ta đã xây cầu đường bộ và đường sắt nối liền hai bờ. Từ đó, cầu Đà Rằng trở thành cầu vượt sông dài nhất miền Trung. Sự kết hợp giữa núi Nhạn và sông Đà hài hòa đến nỗi nhắc đến Tuy Hòa, Phú Yên, người ta nhắc đến sông Đà và núi Nhạn. Và những bài thơ viết về Phú Yên ít nhiều vẫn nhắc đến cặp đôi này.

Cả ngày lẫn đêm đều có người lên tháp Nhạn. Từ trên tháp vừa có thể ngắm bình minh từ biển và hoàng hôn từ núi. Ban đêm, tháp Nhạn lung linh huyền ảo bởi đèn nghệ thuật chiếu sáng. Đứng cách xa vài cây số, người ta vẫn nhìn thấy rõ ngọn tháp.

Ánh đèn sáng rực dọc hai bờ sông, chiếu sáng trên những chiếc cầu dài ngoằng, chiếu sáng trên những con phố, mái nhà… tạo nên phong cảnh hữu tình. Hằng năm, vào dịp Nguyên tiêu, sân tháp Nhạn trở thành điểm sinh hoạt Ngày thơ Việt Nam, thu hút đông đảo nhà văn, thi sĩ, nghệ sĩ tham gia.

Người ta kể rằng khi vừa đặt chân đến miền Trung, nhìn từ xa tưởng tháp Nhạn là pháo đài, quân đội Pháp đã nã súng vào ngọn tháp, gây hư hại một phần thân tháp. Trải qua năm tháng chiến tranh, tháp liên tục hứng bom đạn và xuống cấp. Dù vậy, ngọn tháp vẫn không bị đổ nát. Sau này, khi phát triển du lịch, bảo tồn tháp Chăm cổ, người ta đã phục dựng lại ngọn tháp theo kiến trúc nguyên bản, tạo thành điểm đến hấp dẫn.

Phú Yên hiện đang thành điểm nóng của du lịch miền Trung từ khi vịnh Xuân Đài được xem là vịnh biển đẹp của quốc gia. Đến Phú Yên, du khách vẫn tìm được nét bình dị, dễ thương của đất và người.

Ngoài cảnh đẹp hoang sơ và các di tích, kiến trúc được bảo tồn tốt, lòng hiếu khách và sự thân thiện của người dân Phú Yên đã níu chân du khách của mọi miền đất nước. Đến Phú Yên, du khách có thể thiết kế chương trình nghỉ dưỡng và khám phá trong hai ngày để thăm thác và tận hưởng cảm giác biển mênh mông, hoang dã của vùng đất này.

Từ núi Nhạn-sông Đà, du khách di chuyển về hướng Bắc theo hướng Sông Cầu, khám phá các bãi biển đẹp, ghềnh Đá Đĩa độc đáo, đầm Ô Loan trù phú và nhà thờ Mằng Lăng cổ kính. Ngược về hướng Nam có núi Đá Bia, vịnh Vũng Rô gắn với chiến tích của Đoàn tàu không số; và cách đó không xa là mũi Đại Lãnh được xem là cực Đông của Việt Nam.

Đến với tháp Nhạn

Du lịch, GO! - Theo Đề Quy (báo Cần Thơ), ảnh internet.

Về Cần Thơ thăm nhà cổ Thuận Hưng

Từ quốc lộ 91 theo hướng từ Cần Thơ đi Long Xuyên chừng 30km, rẽ phải vào thêm 3km về phía sông Hậu là đến trung tâm phường Thuận Hưng, thuộc quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ. Nhìn ngang qua sông chỗ Thuận Hưng là cù lao Tân Lộc.

< Nhà cổ Thuận Hưng nhìn từ bên ngoài gồm kiến trúc ba gian hai chái, diện tích nền nhà gần 200 mét vuông.

Dọc theo tuyến đường bộ và đường sông này, đi qua các quận Ô Môn, Thốt Nốt, cù lao Tân Lộc, rất nhiều nhà cổ có kiến trúc theo nhiều thời kỳ khác nhau. Tiền nhân của cư dân vùng này đã theo Chưởng cơ Lễ Thành hầu Nguyễn Hữu Cảnh và các vị công thần triều Nguyễn vào Nam mở mang bờ cõi, định cư lập nghiệp gầy dựng nên.

Từ khu chợ quê của Thuận Hưng rẽ trái chừng 150 mét, cũng về phía bên trái, du khách sẽ gặp một ngôi nhà toàn bằng gỗ có kiến trúc nhà xưa Nam bộ, trước nhà có sân gạch Tàu rộng rãi; đó là ngôi nhà cổ ở số 52, ấp Tân Phú, phường Thuận Hưng, quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ; chủ nhân là ông Nguyễn Phùng Sanh, thường gọi là bác Mười Giai.

< Đình Thuận Hưng.

Tên gọi “nhà cổ Thuận Hưng” trở nên quen thuộc từ khi khách du lịch thường tìm đến tham quan ngôi nhà đặc biệt này; hiện vẫn giữ được gần như nguyên vẹn kiến trúc và nội thất của một ngôi nhà đã tồn tại gần trăm năm tọa lạc gần ngôi đình Thuận Hưng, trung tâm văn hóa và tín ngưỡng dân gian của cộng đồng cư dân địa phương.

Vị trí đình Thuận Hưng thuộc Tân Phú, phường Thuận Hưng ngay trước khu chợ. Đình được hình thành vào năm 1845, có tên gọi “Tòa Miếu Võ”, đến năm 1848 miếu được nâng cấp thành đình. Vùng này được đặt tên là Tân Thuận Đông, lúc đó đình cũng mang tên gọi của vùng là đình Tân Thuận Đông.

Đến ngày 11/12/1935, làng Tân Thuận Đông lại sáp nhập với làng Tân Hưng thành làng Thuận Hưng, đình Tân Hưng được dời theo về sáp nhập với đình Tân Thuận Đông, lấy tên gọi chung là đình Thuận Hưng, có nghĩa là Thuận hòa - Hưng thịnh. Tên gọi đó được lưu giữ cho đến nay.

Giữa năm 1848, ông Lê Văn Liễu cùng một số dân làng lên đường ra tận kinh đô Huế, dâng sớ lên nhà vua xin được cấp sắc thần để thờ phụng. Vua Tự Đức đã phong sắc cho đình là “Bổn Cảnh Thành Hoàng”. Từ khi có sắc thần, dân chúng làm ăn ngày càng phát triển, mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt, cuộc sống yên ổn, hạnh phúc.

< Ông Nguyễn Phùng Sanh, chủ nhân nhà cố Thuận Hưng.

Nhà cổ Thuận Hưng được xây dựng từ năm 1925, sau khi có đình Tân Thuận Đông do ông Nguyễn Văn Hổ là ông nội của ông Nguyễn Phùng Sanh xây dựng. Ngôi nhà gồm kiến trúc ba gian hai chái. Ban đầu còn có thêm hai nhà phụ cất năm 1938; đến năm 1964, gia đình lại dỡ hai nhà phụ ra để chia vật liệu của hai nhà đó cho con cháu xây cất nhà ra riêng.

Ngôi nhà hiện nay có dáng dấp kiến trúc nhà rường truyền thống Nam bộ. Mái nhà lợp ngói móc, vách bằng ván gỗ. Mặt tiền quay về hướng Đông, hướng của mọi điều tốt lành. Diện tích nền nhà gần 200 mét vuông.

Cổng nhà rộng khoảng hai mét, nằm phiá bên phải ngôi nhà. Con đường vào nhà cũng phía bên phải chạy thẳng từ cổng vào. Sân nhà cổ rộng khoảng 300 mét vuông, chiều dài của sân trên 20 mét, rộng khoảng 15 mét được lót gạch Tàu. Trước nhà có hàng chậu kiểng, tô điểm thêm vẻ đẹp trang trọng của ngôi nhà.

Điều khác lạ của ngôi nhà này là hàng cột hiên lại được đặt trên nền sân thay vì trên nền nhà. Mặt sân lại thấp hơn nền nhà tạo nét khác biệt trong kiến trúc, để xử lý không gian chuyển tiếp từ sân vào nhà. Kiến trúc này là cách làm có ý nghĩa làm mát đi không khí chuyển vào nhà, làm giảm mưa, giảm nắng tạt xiên vào nhà, một trong những kiến trúc được sử dụng ở vùng khí hậu nhiệt đới.

< Nội thất nhà cổ Thuận Hưng. Gác trên cao chính giữa nhà là cái khánh thờ (nhìn như kiệu để khiêng) cất giữ sắc thần đình làng Thuận Hưng.

Lối chính vào nhà có bậc tam cấp, độ cao của bậc tam cấp cao vừa phải nhưng hơi hẹp bước chân, do đó mỗi khi đặt bước lên tam cấp vào nhà ai ai cũng phải cúi xuống nhìn. Không biết người xưa thiết kế bậc tam cấp này có dụng ý không, nhưng điều này vô tình lại là động tác cúi đầu khi bước vào, như một nghi thức cúi chào bàn thờ tổ tiên đặt giữa gian nhà chính.

Nhà có 4 hàng cột. Mỗi hàng có 6 cột. Tất cả các cột đều có đế kê chân bằng đá. Các đầu kèo phiá ngoài được chạm khắc hình đầu chim phụng. Trong nhà, 6 cặp liễn đối chữ Hán cẩn ốc xà cừ trên nền đen của gỗ căm xe, có nội dung dạy dỗ con cháu. Ngôi nhà tuy mang màu gỗ đơn giản nhưng nội thất trông uy nghi sang trọng của một thời kỳ hưng thịnh. Đặc biệt nhất của phòng khách là bộ thập bát ban võ nghệ gồm những binh khí thể hiện uy thế của người xưa. Phía trên phòng khách, ngay chính giữa nhà có một khánh thờ có cán cầm tay ở hai đầu như một chiếc kiệu nhỏ là nơi cất giữ sắc thần của đình Thuận Hưng.

Chỉ có những gia đình quyền thế, uy tín nhất trong vùng mới được làng tín cẩn giao cho vinh dự phụng giữ sắc thần tại nhà. Sắc thần mang giá trị tinh thần rất lớn đối với cộng đồng, là bảo vật thiêng liêng của đình làng, thể hiện giá trị chỗ dựa tâm linh cho một vùng được vua ban. Sắc thần của đình Thuận Hưng được vua Tự Đức ban cho vào năm 1852. Mỗi khi cúng đình, lễ thượng điền, hạ điền… sắc thần phải được ban Tế tự, chính quyền địa phương cùng bà con tổ chức lễ “thỉnh sắc” long trọng từ nhà cổ Thuận Hưng về đình để làm lễ cúng tế. Sau lễ cúng, sắc thần được thỉnh “hồi sắc” mang trở lại nhà cổ Thuận Hưng để tiếp tục phụng giữ.

< Bộ bàn tròn bằng gỗ cẩm lai, dạng chân quỳ tạc đầu sư tử.

Bộ tủ thờ bằng gỗ trong gian phòng khách đặt ở giữa gian được cẩn ốc xà cừ cũng cùng thời kỳ với những năm xây dựng nhà cổ với tranh cảnh mô phỏng truyền thuyết cách đối nhân xử thế của con cháu đối với tổ tiên ông bà với tích “Nhị thập tứ hiếu”.

Hai chái hai bên nhà là nơi nghỉ ngơi. Chái bên trái dành cho phái nam theo tục “nam tả, nữ hữu” và bên phải dành cho nữ giới có các bộ ván để ngả lưng nghỉ tạm.

Nhà cổ Thuận Hưng nằm trong vùng có nhiều sắc màu văn hoá địa phương như nhà cổ, đình làng Nam bộ, chợ quê, làng làm bánh tráng loại để cuốn, bánh tráng ngọt để nướng, đi “trẹt” qua sông, cù lao Tân Lộc với trải nghiệm văn hoá sinh thái đảo, nhà bè nuôi cá tra, làng nghề đóng ghe xuồng…

Ngôi nhà cổ này là mẫu hình kiến trúc đậm nét văn hóa Việt ở Nam bộ. Cùng với nhiều nhà cổ khác như nhà cổ ông Nguyễn Trung Ái cũng ở vùng Thuận Hưng, các nhà cổ ở cù lao Tân Lộc… rất thuận tiện cho một tuyến du lịch hấp dẫn bằng xe đạp, khám phá văn hóa của vùng đất gắn với làng nghề truyền thống, gắn với thời kỳ mở cõi của cha ông ta ngày nào.

Một ngày đạp xe rong ruổi miệt vườn

Du lịch, GO! - Theo Lâm Văn Sơn (Thời Báo Kinh Tế Sàigòn).

Chủ Nhật, 16 tháng 6, 2013

Tháp Chiềng Sơ (Điện Biên)

Di tích tháp Chiềng Sơ thuộc bản Nà Muông, xã Chiềng Sơ, huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên. Đây là di tích kiến trúc nghệ thuật khá độc đáo thể hiện mối quan hệ đoàn kết, hữu nghị của nhân dân hai nước Việt - Lào.

Từ trung tâm thành phố Điện Biên Phủ, theo quốc lộ 279 đi cửa khẩu Tây Trang, đến ngã ba Pom Lót rẽ trái khoảng 35km, rẽ phải đến Suối Lư (trung tâm huyện Điện Biên Đông cũ), đi 35km đến Mường Luân rồi đến UBND xã Chiềng Sơ, đi khoảng 1km rẽ trái qua cầu đi thẳng khoảng 8km là đến di tích.

Tuyến đường thứ 2 cũng xuất phát từ thành phố Điện Biên Phủ, theo quốc lộ 279 đi cửa khẩu Tây Trang, đến ngã ba Pom Lót rẽ trái khoảng 40km, đến Na Son rẽ phải đi khoảng 30km đến Phì Nhừ. Từ đây quý khách đi thêm 30km nữa là đến di tích tháp Chiềng Sơ.

Đến nay, chưa có một tư liệu lịch sử cụ thể nào khẳng định niên đại khởi dựng của cây tháp nhưng kết quả của các nhà nghiên cứu cho thấy tháp được xây dựng vào khoảng thế kỷ XV-XVI. Tháp Chiềng Sơ là công trình kiến trúc nghệ thuật thể hiện rõ sự tài ba và sự sáng tạo nghệ thuật của nhân dân hai nước Việt - Lào. Tháp được kiến trúc theo hình nậm rượu, dưới to và phần trên nhỏ dần. Tháp cao 10,5m, bốn mặt xung quanh chân Tháp được đặt 2 chú voi ở đằng trước và 2 chú chó ở đằng sau. Tháp được xây dựng bằng gạch và vôi vữa mật. Gạch để xây Tháp có hai loại đó là gạch chỉ loại cỡ lớn, dày dùng để xây dưới chân Tháp, còn loại gạch nhỏ và mỏng dùng để xây trên thân, ngọn Tháp.

Phía chân Tháp được xây dựng theo hình vuông  gồm nhiều tầng xếp lên nhau làm cho dáng vẻ cây Tháp thêm phần chắc chắn, ngoài lớp gạch được trát một lớp vữa, xung quanh không trang trí hoa văn. Phần thân Tháp được trang trí những họa tiết hoa văn, nổi bật là một tòa sen có sáu lớp chồng lên nhau đội lấy tòa Tháp cùng với những đường nét hoa văn chìm nổi cách điệu hình chim muông, hoa lá theo bố cục từng phần rất hài hòa. Đặc biệt hơn cả là những con rồng được đắp nổi uốn mình quanh thân Tháp, đầu và đuôi rồng chụm vào nhau tạo thành hình số tám.

Những con rồng này mang trên mình lớp vảy rất đặc trưng, không giống bất cứ phong cách thể hiện nào qua các thời kỳ lịch sử ở Việt Nam. Rồng có kích thước nhỏ như những con rắn mà văn hóa Ấn Độ giáo tôn thờ. Tất cả những họa tiết hoa văn này được bố trí hài hòa quanh thân Tháp nhằm tạo điểm nhấn và tôn lên vẻ đẹp của Tháp đồng thời tạo sức hấp dẫn và lôi cuốn người xem khi được chiêm ngưỡng di tích kiến trúc nghệ thuật này.

Từ phần chính của thân tháp trở lên trên được xây theo kiểu kiến trúc hình ống dạng hình lục giác, xung quanh là đường tiếp tuyến xen lẫn hình cánh sen chạy liên hoàn quanh thân tháp. Toàn bộ thân Tháp có 3 tầng, các mặt của mỗi tầng được xây trát phẳng theo hình lục giác không trang trí hoa văn, đặc biệt phần chính giữa của mỗi tầng được xây phình to ra trông giống hình những búp sen non.

Ở giữa phần giáp nối của mỗi tầng đều được trang trí hoa văn, các hoa văn được cách điệu và đắp sẵn rồi gắn vào như: hình cánh sen, hình lưỡi mác, hình mặt trời và các hình hoa lá khác; bên trong các cánh sen và lưỡi mác có gắn những miếng gương nhỏ để khi mặt trời chiều vào tỏa ánh hào quang ra xung quanh. Tầng trên cùng (ngọn Tháp) được trang trí giống tầng dưới, chỉ khác về kích thước được thu nhỏ để tạo nên vẻ đẹp mềm mại và thanh tú của Tháp.

Tháp Chiềng Sơ tiềm ẩn nhiều giá trị kiến trúc, lịch sử, văn hóa còn tồn tại đến ngày nay. Thứ nhất, đây là một di tích mang giá trị nghệ thuật cao về mặt kiến trúc. Kiểu dáng của Tháp kết hợp với những họa tiết hoa văn cho thấy đây là một di sản văn hóa cổ được gửi gắm những tư duy sáng tạo, những dụng ý nghệ thuật và suy tưởng về cuộc sống của những người trực tiếp xây dựng nên Tháp nói riêng và nhân dân hai dân tộc Việt - Lào nói chung.
Thứ hai, tháp Chiềng Sơ để lại giá trị lịch sử to lớn bởi đã giúp các nhà nghiên cứu tìm ra và khẳng định được lịch sử về tình đoàn kết gắn bó lâu đời giữa hai dân tộc anh em Việt - Lào.

Thứ ba, giá trị về văn hóa: với sự sáng tạo tài tình, người xưa đã để lại cho thế hệ mai sau một di sản văn hóa - đó là một tòa kiến trúc Tháp cổ lộng lẫy mà ẩn chứa trong đó là nét đẹp văn hóa giữa Việt Nam và Lào đã cùng bắt tay chung ý tưởng để xây dựng nên. Sự tồn tại của tòa Tháp giáo dục thế hệ trẻ chúng ta nhìn vào di tích như soi vào một tấm gương lớn để thấy được thành quả lao động của cha ông với những nhiệt huyết, tài năng và sự đoàn kết. Mọi sự cố gắng ấy cho thấy mục đích mà cha ông ta muốn hướng tới đó là “Chân - Thiện - Mỹ”.

Ngày nay, giá trị của di tích một lần nữa được khẳng định thông qua Quyết định số 1255/QĐ-BVHTTDL ngày 14/4/2011 của Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch về việc xếp hạng di tích quốc gia đối với di tích kiến trúc nghệ thuật tháp Chiềng Sơ, xã Chiềng Sơ, huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên.

Với vẻ đẹp kiến trúc và những ý nghĩa to lớn của tháp Chiềng Sơ, chính quyền các cấp cũng như nhân dân các dân tộc cần nâng cao ý thức trách nhiệm trong công tác trùng tu, tôn tạo, bảo tồn và phát huy giá trị của di tích nhằm bảo vệ một di sản văn hóa mãi trường tồn với thời gian.

Du lịch, GO! - Theo báo Tin tức Du lịch + internet

Thứ Năm, 6 tháng 6, 2013

Chuột đồng nướng muối ớt ở Xẻo Quýt

Tháng năm, chúng tôi có dịp đến thăm khu căn cứ cách mạng Xẻo Quýt thuộc địa bàn hai xã Mỹ Long và Mỹ Hiệp của huyện Cao Lãnh (tỉnh Đồng Tháp). Nắng lên trên đỉnh đầu, đoàn người xuống xuồng ba lá bơi thong dong lướt êm ả trên dòng kênh giữa bốn bề thiên nhiên hoang sơ, tĩnh lặng.

Khu rừng nguyên sinh rộng 50ha, cây tràm mọc ken dày, dưới chân các gốc tràm cổ thụ là lau, sậy và các loại thực vật khác vây kín như bưng. 11 giờ trưa, nắng rực rỡ nhưng chỉ vài sợi nắng tơ mảnh xuyên qua tán lá tràm lọt xuống dòng kênh. Dây bòng bong quấn quanh thân cây tràm chằng chịt nở hoa soi hồng mặt nước.

Xẻo Quýt là nơi tỉnh ủy Kiến Phong (nay là tỉnh Đồng Tháp) chọn làm căn cứ hoạt động cách mạng chống lại giặc Mỹ. Rừng tràm với những cây cổ thụ từ 30 đến 50 năm tuổi che phủ, thời chiến tranh kẻ thù vào đây không phát hiện ra nơi ẩn náu hoạt động của cán bộ lãnh đạo cách mạng. Còn bòng bong, dây leo nhẵn thín ôm gốc cây tràm buông xõa hình thù như cổ bồng ngày tết. “Rối như mớ bòng bong”, địch lọt vào thì không ra được.

Xuồng bơi qua hầm công sự nổi, công sự chìm, nhà hội họp… Cô gái bơi xuồng mặc áo bà ba đen, khăn rằn quấn cổ, giọng nói thánh thót, cười vui rộn rã. Xuồng hôm nay chở khách du lịch, các cô bơi xuồng “kiêm” nhiệm vụ thuyết minh… Trước đây trên chiếc xuồng này “chở nặng chiến công”, xuồng chở chú cán bộ, chở anh hậu cần làm nhiệm vụ ở Xẻo Quýt đánh bại kẻ thù dưới làn bom đạn ác liệt.

Khu căn cứ Xẻo Quýt có nhà hàng phục vụ khách tham quan. Tại đây có các món “lạ miệng” đãi khách, các phóng viên Báo Đồng Tháp gọi là đặc sản sóc tràm. Nói sóc tràm đánh “lạc hướng khẩu vị” với người chưa bao giờ ăn chứ thật ra là món chuột đồng nướng muối ớt. Người miền Trung không quen ăn thịt chuột nên miếng đầu tiên ăn cứ ái ngại ngập ngừng ở bờ môi… Khi “ráng ăn” thưởng thức… đặc sản, thịt chuột nướng trên bếp than hồng thơm ngon. Bây giờ nhắc đến, mùi thơm, vị ngọt còn phảng phất ở đầu lưỡi.

Rồi cá lóc nướng trui, cháy đen nhẻm bưng ra. Ngập ngừng gây lát, tôi nhớ lại tuổi thơ đi chăn bò cầm theo cần câu quảy đằng sau lon sữa bò đựng giun đất làm mồi câu cá. Rạch bàu quê tôi ngày ấy cá rô đồng rất nhiều, lách trong đám rau muống rẹt rẹt. Câu một lát, quơ củi rìu xỏ xiên, nướng cá ăn lót dạ buổi sáng.

Cô gái phục vụ nhà hàng mặc áo bà ba đỏ. Sau một hồi xởi lởi làm quen ra chiều thân thiện, cô gái giải bày: “Nơi em ở cách đây hơn 50 cây số, gốc gác nhà quê, quanh năm mần ruộng, hết mùa lúa em lên trên này làm thêm. Con em “bự” (lớn) rồi biết nhảy lò cò, ở dưới ba”.

Dáng người dong dỏng cao, gương mặt trắng hồng, phúc hậu. Nhà quê mần ruộng nên có “đặc điểm riêng”, bàn tay thô tháp, không như các cô gái thị thành ngón tay thon nhỏ… Em cười, nụ cười tươi rói, đôn hậu. Một nét đẹp mỹ miều lắng đọng trong tâm hồn bao người…

Người dân sống gần khu căn cứ cách mạng Xẻo Quýt hòa nhịp vào môi trường kênh rạch chằng chịt. Những ngôi nhà trải dài với những mảnh vườn trồng xoài, ổi, nhãn…

Nước dưới kênh rạch vẫn chảy, ghe xuồng vẫn ngược xuôi. Trên dòng kênh, ghe chở lúa cập bến từng tốp công nhân bốc vác hối hả đưa lúa vào nhà máy. Ghe chở cát cũng ngược dòng chạy đến nơi công trình đang xây dựng. Một chiếc ghe chở trái cây bỏ mối vừa về, mấy người đàn ông làm công nhân nghỉ mệt lai rai xị rượu, bàn tán chuyện đồng áng, mùa màng.

Chiều, trời bất chợt đổ mưa. Mưa ầm ào trên tán lá cây rơi xuống mái tôn đổ xuống dòng kênh hòa vào lòng nước lững lờ. Trong ngôi nhà, người mẹ và hai đứa con, một trai, một gái đang ngồi ăn cơm phía sau vách hậu sát mé kênh. Bé gái năm nay mười sáu tuổi, bé trai lên mười.

Nồi cơm dọn ra nóng hổi, người mẹ bảo con gái lấy tô (bát) dỡ cơm, canh để phần cho ba, còn dặn: con gái lớn rồi, ăn uống nề nếp, đến bữa ăn cha mẹ đi làm chưa về múc ra để phần riêng hẳn hoi, không được chừa trong xoong, trong nồi nghen con! Nhìn người phụ nữ con dặn con, tôi hình dung người mẹ truyền “nếp nhà” hiếu thảo truyền thống cho thế hệ mai sau. Hỏi ra mới biết, “ba lũ nhỏ làm nghề bốc vác lúa ngoài ghe chưa về”. Rồi bữa cơm trôi đi trong sự lặng lẽ của ba người.

Trời Đồng Tháp chợt mưa, chợt nắng. Rời Xẻo Quýt theo quốc lộ 30 về lại thành phố Cao Lãnh, dọc đường đi dưới ráng chiều đỏ thắm, tôi nhìn đắm đuối ghe xuồng dưới dòng kênh rạch. Ở đó có một cuộc sống cực nhọc mà êm đềm.

Du lịch, GO! - Theo Mạnh Hoài Nam (Báo Vietnamnet), ảnh internet

 
Bếp từ, Bep tu, Bếp từ giá rẻ, Bếp từ hồng ngoại, Bếp từ đôi, Bếp điện từ, Bếp hồng ngoại, Bep hong ngoai