Kênh thông tin giải trí hàng đầu

Tin tức trong nước 24 giờ qua được cập nhật thường xuyên và nóng hổi

Cùng tim hiểu, khám phá những dang lam thắng cảng Việt

Những Danh lam thằng cảnh tuyệt đẹp, nơi sưu tầm những danh lam thắng cảnh đẹp nhât hiện nay

Những khu du lịch sinh thái đẹp nhất

Du lịch Việt, Những danh lam thắng cảnh đẹp nhất

Du lịch Biển đẹp

Tham gia những tuor du lịch tới mọi miền thế giới

Khám phá thiên Nhiên kì thú

Cùng tham gia khám phá những bí ẩn thiên nhiên kì thú

Hiển thị các bài đăng có nhãn Tuyến xe - Đường xá. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tuyến xe - Đường xá. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 26 tháng 6, 2013

Tiếc khi bỏ hoang con đường 40 tỉ...

Con đường được xây dựng nhằm thu hút đầu tư du lịch nhưng vài năm qua không được sử dụng.
Năm 2010 (thật ra, dự án khởi động từ năm 2009), con đường vào dự án du lịch Bãi Chuối có chiều dài gần 6 km chạy quanh núi Hải Vân (thị trấn Lăng Cô, huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên - Huế) được khởi công xây dựng.

< Dự án du lịch không được xây dựng, con đường đầu tư hàng chục tỉ đồng cũng bỏ hoang.

Đến giữa năm 2012, tuyến đường này hoàn thành. Thế nhưng, đến nay, vị trí đấu nối với tuyến Quốc lộ 1 (đường đèo Hải Vân) vẫn chưa thi công và được ngăn cách bằng một bức tường để chặn mọi phương tiện đi vào con đường này.


< Ở đây khung cảnh đẹp tuyệt vời.

Tuyến đường du lịch Bãi Chuối đã được trải nhựa. Các biển báo giao thông dọc đường cũng đã được dựng lên. Tuy nhiên, từ ngày hoàn thành đến nay do không có phương tiện và người qua lại nên nhiều đoạn đã bị cây cối, dây leo mọc lấn ra nửa mặt đường.

Theo bảng chỉ dẫn, tuyến đường sẽ dẫn ra khu du lịch Bãi Chuối nhưng đi hết đoạn này, chúng tôi chỉ gặp toàn lau sậy um tùm. Ông Nguyễn Khánh (ngụ TP Đà Nẵng), người thường bẫy chim tại đây, thắc mắc: “Dọc tuyến chẳng có nhà dân, cũng không có cơ sở du lịch nào, sao nhà nước lại bỏ tiền ra mở đường?”.


< Con đường lúc bọn mình đi (đầu tháng 3/2012) chưa được tráng nhựa.
Xem chuyến đi.

Ông Tôn Thất Viễn Điểm, Trưởng Phòng Đầu tư xây dựng Ban Quản lý Khu Kinh tế Chân Mây - Lăng Cô (đơn vị chủ đầu tư tuyến đường), cho biết con đường vào dự án du lịch Bãi Chuối có vốn đầu tư khoảng 40 tỉ đồng do Bộ Kế hoạch và Đầu tư cấp. Đường được thiết kế xây dựng theo đường mòn dân sinh đã có từ trước, rộng gần 4 m.
Theo ông Điểm, việc mở con đường này là nhằm hỗ trợ cơ sở hạ tầng cho một doanh nghiệp nước ngoài đã được cấp phép đầu tư về du lịch tại Bãi Chuối. Việc đấu nối với tuyến Quốc lộ 1 đang chờ ý kiến từ Tổng cục Đường bộ Việt Nam.


< Bãi Chuối hoang sơ nhìn từ xe lửa Bắc Nam.

Tìm hiểu thêm, chúng tôi được biết vào tháng 3-2008, UBND tỉnh Thừa Thiên - Huế đã cấp giấy phép đầu tư cho Công ty Cattigara One Limited (Singapore) xây dựng dự án khu nghỉ dưỡng Bãi Chuối. Dự án có diện tích 100 ha, tổng vốn đầu tư 102 triệu USD, xây dựng 100 villa - resort - khách sạn và 70 villa cao cấp cho thuê hoặc bán.

Khu nghỉ dưỡng này được thực hiện qua 2 giai đoạn. Trong đó, giai đoạn 1 sẽ đi vào hoạt động sau 30 tháng kể từ ngày được cấp giấy phép xây dựng. Thế nhưng, Bãi Chuối hiện chỉ là bãi đất hoang, chưa xây dựng công trình kiến trúc nào.


< Từ đây nhìn thấy núi trên bán đảo Sơn Trà.

Ông Tôn Thất Viễn Điểm cho biết: “Nếu không làm đường này thì nhà đầu tư chẳng có cách gì để vào Bãi Chuối xây khu du lịch. Việc của chúng tôi là mở đường chứ không biết vì sao đến nay nhà đầu tư vẫn chưa vào Bãi Chuối xây dựng”. Theo người dân địa phương, đầu tư một con đường với nguồn vốn rất lớn từ ngân sách nhưng lại bỏ hoang và có nguy cơ hư hỏng trong mùa mưa này thì quá lãng phí.

Thiết nghĩ, đã lỡ tạo dựng một con đường: cho dù chưa có nhà đầu tư nào thực hiện dự án du lịch tại đây thì địa phương cũng nên cố gắng hoàn thành nốt cung đường này (làm mặt đường tạm thôi cũng được) để phục vụ khách du lịch gần xa. Bãi Chuối rất đẹp, quang cảnh đường vào đây và hướng nhìn ra hòn Sơn Trà thật tuyệt vời (tôi đã từng đến đây 1 lần, đáng tiếc là khi ấy đường rất khó đi nếu bạn không có sức như thanh niên). Nếu thực hiện được: nơi đây sẽ bổ xung thêm một địa điểm du lịch cho vùng đất tuyệt vời là Thừa Thiên - Huế, mong lắm thay!

Du lịch, GO! - Theo Quang Nhật (báo Người Lao Động) + Dulichgo

Lăng Cô và cung đường tử thần trên Hải Vân

Chủ Nhật, 23 tháng 6, 2013

Cao tốc Long Thành – Dầu Giây khi nào thông xe?

Câu hỏi “cao tốc TP.HCM – Long Thành – Dầu Giây khi nào thông xe?” tuy không mới nhưng luôn là vấn đề được đông đảo người dân quan tâm. Bởi, khi tuyến đường này được đưa vào sử dụng sẽ mở ra lối thoát cho các loại ôtô thường xuyên bị kẹt ở xa lộ Hà Nội, ngã ba Vũng Tàu hay phà Cát Lái trong những ngày cao điểm lễ tết.

Trao đổi với chúng tôi, ông Mai Tuấn Anh, tổng giám đốc tổng công ty Đầu tư phát triển đường cao tốc Việt Nam (VEC) – chủ đầu tư dự án – thừa nhận dự án không thể hoàn thành như dự định là sau 32 tháng tính từ ngày khởi công (khởi công ngày 3.10.2009), vì trong quá trình thi công đã gặp không ít khó khăn, trong đó khó khăn lớn nhất là giải phóng mặt bằng.

Tuy nhiên, với nỗ lực của các đơn vị liên quan, đến nay gói thầu xây lắp 1A đã hoàn thành, cơ bản hoàn thành gói thầu 1B và đang từng bước hoàn thiện tất cả các gói thầu còn lại. “Hiện chủ đầu tư và các nhà thầu đang khẩn trương thi công để đảm bảo thông xe kỹ thuật đoạn từ TP.HCM đến Long Thành (Đồng Nai) vào cuối năm 2013 và thông xe toàn tuyến vào cuối năm 2014”, ông Anh nói.

Tuy nhiên, theo VEC để đạt được mục tiêu trên, VEC đã đề nghị tư vấn giám sát và nhà thầu phải xây dựng lại kế hoạch, trên cơ sở tăng cường lao động và thiết bị, tổ chức làm tăng ca, đẩy nhanh tiến độ nhằm bù đắp khối lượng bị chậm. Đặc biệt, chủ đầu tư yêu cầu các địa phương là TP.HCM, Đồng Nai bàn giao toàn bộ mặt bằng trong thời gian sớm nhất. Riêng đối với Đồng Nai, cần ngăn chặn tình trạng tái lấn chiếm, cản trở thi công, không làm ảnh hưởng đến việc thi công của các nhà thầu. Và đến nay, Đồng Nai đã cơ bản hoàn thành việc giải phóng mặt bằng.

Riêng tại TP.HCM, mới đây, UBND TP.HCM đã chỉ đạo các địa phương liên quan là quận 2 và quận 9 nhanh chóng bàn giao mặt bằng cho VEC trong tháng 7.2013 để đẩy nhanh tiến độ thi công dự án thành phần 1 đoạn An Phú (quận 2, TP.HCM) đến đường Vành đai 2 (dài 4km). Ngày 23.6, trao đổi với phóng viên Sài Gòn Tiếp Thị, một vị lãnh đạo quận 9 cam kết “làm bằng mọi cách để thực hiện chỉ đạo của UBND TP.HCM”.

Nếu công tác giải phóng mặt bằng của TP.HCM xong vào tháng 7.2013 thì bao giờ dự án thành phần 1 hoàn thành? Trả lời câu hỏi này, ông Lê Mạnh Hùng, giám đốc ban quản lý đường cao tốc TP.HCM – Long Thành – Dầu Giây, khẳng định: “Vì khối lượng công việc của dự án đã đạt được hơn 85%, nên chỉ cần cộng thêm 11 tháng nữa là cả ba gói thầu của dự án thành phần này xong. Với khối lượng công việc là thi công 4km đường theo tiêu chuẩn đường đô thị, ba cầu vượt sông, một cầu vượt đường ngang, một nút giao thông khác mức (Vành đai 2) và một nút giao thông cùng mức (An Phú). Như vậy đến cuối năm 2014, việc hoàn thành toàn tuyến là chuyện nằm trong tầm tay”.

Du lịch, GO! - Theo báo Sàigòn Tiếp Thị, ảnh internet

Thứ Ba, 18 tháng 6, 2013

Điều cần biết khi lái xe qua đèo.

Đã vào mùa mưa nhưng cũng chính là lúc vào hè, mùa du lịch. Những chuyến đi dài thường khó tránh những đoạn đường có xuất hiện đèo núi. Địa hình dốc trong thời tiết mưa giông ẩm ướt có thể sẽ khiến nhiều tài xế ít kinh nghiệm gặp khó khăn.

Chỉ đến khi vụ một chiếc container thổi bay hơn chục người xuống vực tại Cao Bằng, hồi cuối năm Nhâm Thìn, nhiều lái xe có hoặc có ít kinh nghiệm đi đèo núi bỗng giật mình tự hỏi, liệu điều khiển xe cẩn trọng ở địa hình khuất tầm nhìn đã đủ an toàn?
Một chiếc xe tải trọng nặng hay xe đang chạy ở tốc độ cao khi đổ đèo, bất ngờ gặp đám đông cản đường sẽ rất khó tránh va chạm. Một trong những thói xấu của người Việt là hay túm tụm chỉ để hóng tai nạn của người khác, dẫn đến ách tắc giao thông và làm tăng nguy cơ mất an toàn, nhất là khi đang ở trên dốc.

Từ vụ tai nạn ở Cao Bằng hay trên đèo Bảo Lộc mới đây, có thể là lời cảnh báo cho mọi người, rút ra bài học để giảm thiểu những rủi ro trên hành trình đi du lịch mùa hè.

Đặc thù của đường đồi núi, đèo dốc là đường vắng, không có hàng quán, không có trạm sửa chữa, tóm lại là rất hiếm sự trợ giúp bên ngoài mà bạn phải hoàn toàn chủ động bổ túc tay lái khi đi trên đường đồi, núi, đèo, dốc...

Những kinh nghiệm lái xe trên đèo sau có thể có ích cho người điều khiển phòng tránh những tai nạn đáng tiếc. Bài viết được sự hỗ trợ từ một số thành viên trong câu lạc bộ offroad của diễn đàn Otofun.

Trước mỗi chuyến đi, nên tìm hiểu trước cung đường sẽ trải qua. Điều này sẽ giúp bạn có ý thức chuẩn bị các công cụ hỗ trợ cần thiết tương ứng với loại địa hình tương ứng. Đừng ngại và dành thời gian kiểm tra toàn xe, đặc biệt là hệ thống phanh, lốp (nếu lốp nếu mòn quá hãy thay thế) và đèn báo trước khi đi và chuẩn bị băng đèo. Hệ thống lái của xe phải được cân bằng, hệ thống dầu cho động cơ và nước làm mát phải có đầy đủ.

Quá trình đưa xe lên dốc đòi hòi phải có lực rất lớn chính vì vậy cần phải lên xuống số phù hợp, thay với tốc độ và công suất của xe. Kể cả số sàn và số tự động, hãy luôn đi chậm hơn khả năng của mình có. Bởi vì quá nhiều sự nguy hiểm có thể xảy ra, luôn luôn chú ý quan sát và đọc biển báo. Biển báo nguy hiểm có độ dốc; biển báo đường chính, phụ; biển báo có khúc ngoặt, cua gấp... ở những đường cua vắng, khuất tầm mắt.

Nên sử dụng đèn chiếu sáng liên tục khi đang vận hành xe trên đèo, kể cả vào ban ngày. Trong điều kiện thời tiết có sương mù hay mưa phùn, đừng quên sử dụng đèn gầm. Nếu tầm nhìn hạn chế và xe không được trang bị đèn sương mù, nên dán giấy nylon màu vàng/đỏ vào đèn, điều này sẽ có lợi bởi tầm quan sát rõ hơn.

Hầu hết các đèo ở Việt Nam đều có những góc cua gấp mà tài xế sẽ không thể nhìn được chướng ngại vật trước mặt. Do vậy, tại những vị trí này, nên đi chậm kết hợp với bấm còi và nháy đèn pha để thông báo cho các phương tiện giao thông khác, kể cả khi đường có cắm gương cầu quan sát.

Khi xuống dốc cần phải giảm tốc độ và xuống số thấp. Bởi vì khi động cơ ở số thấp thì hệ thống bánh răng sẽ ghìm được xe, chống trôi tự do. Như vậy bạn không phải phanh quá nhiều và không bị tổn hại phanh. Nếu xe xuống dốc mà phanh quá nhiều, hệ thống phanh sẽ sinh nhiệt cộng với áp lực dầu quá lớn có thể phá vỡ tuy ô dầu. Đây là nguyên nhân của việc mất phanh và mất lái gây ra tai nạn.

Sử dụng số phù hợp với độ dốc của đèo, nếu số thấp quá có thể sẽ làm động cơ bị quá nhiệt thì số cao quá dễ làm mất kiểm soát. Ra vào số theo nguyên tắc "lên già - xuống non", nghĩa là khi leo lên thì tăng số muộn hơn, còn khi đổ đèo thì về (xuống) số sớm hơn so với lúc điều khiển trên đường bằng. Cố gắng giữ máy vận hành ở số thấp và "lên số nào - xuống số đó".

Riêng về xe gắn máy: khi chạy ở nơi dốc núi, nhiều người có xu hướng sử dụng phanh liên tục để hãm tốc độ. Tuy nhiên, đây lại là thói quen và kỹ năng lái không có lợi cho xe. Rà phanh liên tục sẽ khiến má phanh nóng, dẫn tới mất ma sát, có thể cháy má thắng và làm giảm tác dụng của phanh.

Để hãm tốc độ xe khi đổ đèo, nên chau dồi kỹ năng dùng số kết hợp với phanh. Phanh hoạt động tốt nhất sau khi đã về số hoặc phải giảm tốc độ khẩn cấp. Tuy nhiên, ngay cả khi phải dùng để giảm tốc độ cũng cần tránh phanh gấp, đặc biệt lúc xe đang vào góc nghiêng.

Tập trung điều khiển xe đi đúng làn đường cho phép, tránh lấn trái. Chỉ nên lấn làn tại những đoạn có kẻ sơn đường đứt đoạn và không có phương tiện đi ngược chiều. Hạn chế tối đa việc vượt xe cùng chiều khi leo đèo nhất là những xe có tải trọng lớn. Nếu có ý định vượt xe khác trên đèo, nên chọn đoạn đường có tầm quan sát rộng, vượt dứt khoát, vượt xong phải cho xe sớm trở lại phần đường của mình. Hạn chế vượt lúc vào cua, trừ những góc cua trái có tầm quan sát rộng.

Không nên bám sát xe phía trước, giữ khoảng cách an toàn và phòng trường hợp phanh gấp. Khi leo đèo quá dốc, toàn đá hoặc bùn trơn nên kiếm dây thừng quấn vào bánh xe để tăng độ ma sát. Cố gắng tránh tuyệt đối việc dừng xe ở những góc khuất trên đèo. Trong trường hợp bất khả kháng do xe hỏng, thì phải có biện pháp cảnh báo cho các xe khác ở trước khúc cua.

Khi đi đèo vào mùa mưa lũ, nên chú ý các đoạn đường vách núi cao. nếu có hiện tượng nước màu đỏ gạch chảy qua đường, thì nên lưu ý đoạn đường đó rất dễ bị sạt lở do đất đá đã no nước và dễ có hiện tượng lũ bùn.

Chú ý từ xa những bụi nhỏ, đá con rơi xuống từ vách núi, nếu các loại đá bụi này rơi từ vị trí càng cao càng nguy hiểm bởi đó là hiện tượng sạt lở, cây cối đổ, sạt ta-luy,... Trong những trường hợp này phải đi thật chậm để quan sát và nếu quá nguy hiểm thì nên quay đầu xe để giữ an toàn.

Hãy tạo thành thói quen nghỉ trước khi mệt. Với cung đường này trung bình 40 -> 50km, bạn nên nghỉ lấy sức, thư giãn sau một chặng đường dài làm việc quá sức. Nếu xe sử dụng lâu nên mở lắp cabô kiểm tra, có thể bạn sẽ phát hiện điều gì đó có ích cho sự an toàn của bạn. Bạn hãy uống nhiều nước sau một khoảng thời gian căng thẳng.

Hãy để những chuyến đi du phượt hè luôn ngập tràn niềm vui bằng việc lái xe an toàn, chủ động trong mọi tình huống và tuyệt đối không sử dụng rượu bia trước và trên hành trình.

Du lịch, GO! - Tổng hợp từ Vneconomy, Đào tạo lái xe... và nhiều nguồn ảnh khác.

Thứ Bảy, 15 tháng 6, 2013

Giữa hai hồ trên núi

Đoạn Quốc lộ 279 nối từ huyện Chợ Rã, Bắc Cạn qua huyện Ba Bể rồi về vùng lòng hồ thủy điện Na Hang của tỉnh Tuyên Quang dài hơn 36 km.

Tuy nhiên, hiện có khoảng 20km qua các xã Cao Trĩ, Cao Thượng của huyện Ba Bể, đoạn thông sang góc phía tây hồ thủy điện Na Hang là “cung đường đau khổ” cho bất cứ ai yêu du lịch, thử thách và khám phá.

Nhưng rồi khi vượt qua hết cung đường, những gì nhìn thấy còn quý giá hơn nhiều phần thưởng dành cho người chinh phục.

Chặng này của tuyến đường 279 có điều khác biệt, bởi ở điểm đầu và điểm cuối của cung đường đều là hai hồ nước thiên nhiên rộng lớn. Hồ Ba Bể và Hồ thủy điện Na Hang, cả hai cái tên đều hấp dẫn, mời gọi du khách khám phá bởi cảnh sắc non xanh nước biếc, sơn thủy hữu tình.

Nếu chinh phục cung đường này bằng đường thủy, du khách có thể xuống ca nô tại bến thuyền phía sau thác Đầu Đẳng thuộc khu lòng Hồ Ba Bể.

Ngược dòng sông Gâm chừng 45 phút, sau đó đổi bến xuôi dòng sông Năng về vùng hồ thủy điện Na Hang. Với cách di chuyển này, bước chân dân phượt sẽ có những phút thảnh thơi, tuy không có cơ hội khám phá cảnh sắc thiên nhiên từ trên cao nhưng bù lại là một hành trình nhàn nhã, nhẹ nhàng, thả đôi chân thư thái trên thuyền mà ngắm cảnh nước non lồng lộng, những người dân chài thả lưới, giăng câu trên những chiếc thuyền nan.

Đi bằng đường bộ là một lựa chọn hoàn hảo cho một hành trình khám phá và cảm nhận với đủ mọi cảm xúc tột cùng, như một phượt thủ từng thốt lên khi đi hết con đường “đúng là con đường đau khổ đến tận cùng để rồi thăng hoa lên tiên cảnh”. Đường bộ 279 suốt hơn 20km đều là những đoạn xe xúc đào nham nhở, có đoạn đất xốp đi lún như bùn, có đoạn lại chỉ toàn đá hộc, đá tảng, thậm chí có nhiều đoạn đường vẫn chưa thông, cứ đi một vài cây số lại phải chờ xe xúc.

Hơn 20km ấy đủ khiến cho những tay lái cừ khôi trở nên chán nản. Những cánh tay tê dại vì giữ lái cho chiếc xe kẽo kẹt như muốn rời ra từng khúc bởi những cú húc, cú va vào đá hộc, những cú chồm lên rồi lại cắm đầu lao dốc như muốn lộn nhào.

Cứ vài trăm mét, lại phải dừng xe nghỉ mệt, trấn tĩnh thần kinh và chuẩn bị tâm lý cho những chặng tiếp theo. Ấy nhưng trong chính những khoảng khắc dừng xe ấy, đôi mắt người đi chinh phục sẽ có cơ hội “no nê” với cảnh sắc núi rừng.

Chinh phục thành công chặng đường ngắn ngủi ấy đôi khi phải mất đến nửa ngày.

Tuy nhiên, ở hai điểm đầu của con đường, thiên nhiên vô cùng tươi đẹp của hai vùng hồ và cuộc sống con người bình dị, những món ăn đặc sản địa phương được chế biến từ chính những sản vật lòng hồ sẽ khiến cho tâm hồn lãng du của người chinh phục hoàn toàn thỏa mãn.

Du lịch, GO! - Theo Vũ Thanh (Báo An Ninh Thủ Đô), internet

Thứ Sáu, 14 tháng 6, 2013

Đường Hạnh Phúc trên cao nguyên đá

Quốc lộ 4C với chiều dài 185km xuyên cao nguyên đá Đồng Văn mang tên là đường Hạnh Phúc vốn là con đường được khởi đầu và thành hình từ công sức và cả máu xương của hàng vạn thanh niên xung phong từ những năm 50 – 60 thế kỷ trước...

Với dân phượt nói riêng và những ai yêu thích khám phá vùng cao nói chung thì đường Hạnh Phúc là một hành trình đặc biệt. Hầu hết du khách muốn chinh phục cung đường này để thấy được cảnh sắc hùng vĩ cùng cuộc sống tươi đẹp phải vượt qua những con đèo cao vút như đèo Bắc Sum, đèo Cổng Trời, đèo Cán Tỷ, đèo Mậu Duệ, ngược lên Lũng Cú vời vợi mây trời. Và đặc biệt là vượt qua bức tường thành Mã Pì Lèng danh tiếng.

Sự đổi thay trên đường Hạnh Phúc

Chúng tôi bỏ lại thành phố Hà Giang bình yên với cột mốc Km 0 của quốc lộ 2 để chinh phục đường Hạnh Phúc xuyên cao nguyên đá. Sau 20km tương đối bằng phẳng là đèo Cổng Trời Quản Bạ sừng sững chào mời với độ dốc lớn khiến xe phải bò số 1, số 2. Đứng trên Cổng Trời Quản Bạ du khách sẽ chẳng khó nhận ra một thị trấn Tam Sơn giàu có trải rộng giữa lòng thung lũng.

Những mái nhà tầng, biệt thự mọc lên san sát nhau kéo dài đến tận chân núi. Một thị trấn miền núi mà giàu đẹp không kém dưới xuôi. Ở đó có đủ các dịch vụ nhà hàng, khách sạn, càphê, wifi, massage… 50 năm trước, nếu không có mồ hôi, nước mắt của hàng vạn thanh niên xung phong lao động mở đường thì có lẽ không có được một Tam Sơn xinh đẹp như ngày nay.

< Cảnh hùng vĩ khi mở đường vượt Mã Pí Lèng.

Giữa những quả núi trùng trùng điệp điệp, một vẻ đẹp tuyệt vời mà thiên nhiên đã ban tặng cho Tam Sơn, cho cao nguyên đá. Hỏi chị Len, một người bán đồ lưu niệm ở Cổng Trời chúng tôi mới được biết núi đôi Quản Bạ thực ra xa xưa là núi đôi Cô Tiên. Núi đôi Cô Tiên có hai chóp giống hệt đôi gò bồng đào của thiếu nữ. Nó nằm nổi bật giữa cánh đồng Tam Sơn rộng lớn, bằng phẳng và màu mỡ.

Đi trên những đoạn đèo dốc chốc chốc lại bắt gặp cảnh bình yên dưới lòng thung lũng. Những bản làng của các dân tộc những huyện vùng cao Quản Bạ, Yên Minh, Đồng Văn, Mèo Vạc giờ đây đã đổi thay. Người dân không còn trồng hoa anh túc như xưa nữa, giờ họ biết trồng ngô trên những núi đá khô cằn.

Bà Giàng Thị Véo, dân tộc Mông ở Sà Phìn đang làm nương trong buổi sáng hè, nhìn về phía chúng tôi cười khúc khích. Giữa những núi đá tai mèo đen sì, sắc nhọn mọc lên tua tủa ấy, bà Véo vẫn biết tận dụng khe nhỏ để đổ đất gieo hạt. Nghỉ tay, bà tâm sự với cái giọng khàn khàn: “Ở đây trồng cây ngô để có cái ăn hàng ngày. Thỉnh thoảng lũ trẻ mới được bữa cơm thôi à”.

Trên con đường dẫn đến thị trấn Đồng Văn, chúng tôi đã thấy người dân đang lên nương đổ ải, làm cỏ để chuẩn bị gieo hạt cho mùa lúa mới. Với những khu ruộng bậc thang thì mỗi năm trồng được một vụ lúa đã là may mắn rồi. Những điểm trường mầm non, tiểu học mọc lên nhiều dọc con đường Hạnh Phúc. Sáng sáng lũ trẻ cắp sách tới trường dù trên đôi chân nhiều đứa không có cả dép, bộ quần áo mặc đã cũ rách.

Bỏ lại đèo Yên Minh với những bà lão dân tộc bán dưa hấu, dưa chuột giữa trưa hè nắng cháy; bỏ lại hình ảnh bà Véo làm nương giữa trùng trùng núi đá, trước mắt chúng tôi giờ là cung đường đèo hùng vĩ, hiểm trở được gọi tên Mã Pì Lèng (hay Mã Pí Lèng, Mão Pí Lèng). Theo tiếng của đồng bào Mông, tên gọi đó có nghĩa là sống mũi con mèo.

David, một chàng trai người Pháp mặc áo cờ đỏ sao vàng Việt Nam đã không khỏi xuýt xoa về vẻ đẹp hùng vĩ của Mã Pì Lèng. Anh leo ra tận mỏm núi để kiếm những bức hình độc đáo, bất chấp sự can ngăn hiểm nguy của cô bạn gái đi cùng. Lũ trẻ con Mông trên đỉnh Mã Pì Lèng vui nhộn và không bao giờ tắt nụ cười trên môi, xe nào đi qua, chúng cũng đưa tay lên vẫy, nói: “Xin chào” và nếu có ai đó có kẹo, có bánh muốn cho, cả bọn lại ùa đến ríu rít, hò hét vui nhộn.

Và đây, khi nhà quan sát dòng Nho Quế đã hiện ra thì chúng tôi cũng biết được rằng mình đã chạm tới đỉnh Mã Pì Lèng cao hơn 2.000m so với mực nước biển. Được biết, ngày xưa để có được 20km đường đèo Mã Pì Lèng, đội cảm tử mở đường đã phải treo mình suốt 11 tháng trên vách núi để đục đá mở ra con đường công vụ rộng chỉ vẻn vẹn 40cm. Từ con đường công vụ đó, đến hôm nay mới có một đường đèo Mã Pì Lèng thênh thang hai làn xe ôtô bốn chỗ có thể tránh nhau.

Chứng tích của một đế chế

Cao nguyên đá Đồng Văn không chỉ là một công viên địa chất của thế giới, mà còn là một vùng đất chứa những chứng tích lịch sử rất tiêu biểu của đồng bào vùng cao tỉnh Hà Giang.

Trước khi có con đường Hạnh Phúc, từ mạn Quản Bạ ngược về phía biên giới gần như bị chia cắt với miền xuôi bởi Cổng Trời. Ông Giàng A Sung, năm nay đã 76 tuổi ngồi bán nước mía ở thị trấn Tam Sơn kể rằng, ngày xưa con ngựa leo đến Cổng Trời còn gục ngã, làm gì có xe cộ như bây giờ để xuống được miền xuôi. Cả vùng miền núi Hà Giang trước Cách mạng tháng tám là vương quốc, là lãnh thổ của ông Vua Mèo Vương Chính Đức (1865 –1947).

Nằm sát con đường Hạnh Phúc và cách thị trấn Đồng Văn 14km ngày nay là chứng tích về một thời của gia tộc họ Vương. Chị hướng dẫn viên cho biết, ông Vua Mèo Vương Chính Đức là người đầu tiên đặt nền móng cai trị các đồng bào dân tộc thiểu số ở đây. Dưới sự cai trị của Vua Mèo, tất cả người Mông (dân tộc chiếm đa số) phải trồng cây anh túc để làm thuốc phiện. Ông Vua Mèo sau đó bán thuốc phiện cho nhà Thanh, cho Tưởng Giới Thạch và rồi cho thực dân Pháp để lấy vàng và ngoại tệ.

Sự giao thương giữa Vua Mèo với phương Bắc thể hiện rõ nét trong kiến trúc của khu dinh thự họ Vương. Tổng thể kiến trúc rộng hơn 1.000m2 với 13 hạng mục công trình của dinh khá giống với nhiều biệt phủ của vua quan Trung Quốc thời phong kiến.

Vương Chính Đức mặc áo vua cũng na ná một vị vua phương Bắc... Toàn bộ khu dinh thự rộng lớn được bao bọc bởi vòng tường đá dày 1m, cao từ 2,5 – 3m. Một khối lượng rất lớn gỗ lim, pơmu, sến… cùng với đá xanh khổng lồ đã dùng để xây lên khu vương phủ đồ sộ này. Tất cả những bức tường chính trong dinh phủ đều có độ dày 50 – 60cm được xây bằng đá sau đó ốp gỗ quý bên ngoài.

Khi màu xanh của dòng Nho Quế khuất hẳn dưới khe núi, chúng tôi cũng đến được Mèo Vạc, thị trấn với cột mốc Km185. Dẫu biết, cuộc sống của những con người vùng trời cực Bắc của tổ quốc vẫn còn nghèo đói lắm, gian nan lắm nhưng mầm “hạnh phúc” đang nảy nở giữa đá sỏi. Với những ruộng bậc thang lúa mới, nương ngô xanh tươi, lũ học sinh đôi mắt tròn xoe cắp cặp tới trường; với chúng tôi hành trình mang tên Hạnh Phúc chưa bao giờ kết thúc.

Gập ghềnh... đường Hạnh Phúc

Du lịch, GO! - Theo Hải Dương (SGTT), internet

Thứ Tư, 12 tháng 6, 2013

Ký sự đường 10 - Kỳ cuối: Thương lắm trẻ vùng cao

(Tiếp theo) - Bản Bạch Đàn nằm giữa một thung lũng nhỏ bốn bề là những dãy núi cao vời vợi. Thượng tá Đặng Ngọc Tiến, Chính trị viên Đồn biên phòng 601- Làng Mô chấm phá cho tôi một vài nét căn bản về đời sống của đồng bào Vân Kiều ở bản. Anh chốt lại một câu cuối: "Bản còn nghèo lắm, bộn bề khó khăn!".

< Một góc bản Bạch Đàn.

1- Trong những ngày lăn lộn viết Ký sự đường 10, về lại thành phố Đồng Hới, tôi vẫn thấy thiêu thiếu một cái gì đó. Ngẫm nghĩ rồi chợt vỡ òa ra... Những đứa trẻ Vân Kiều dọc theo đường 10 sống, học tập, vui chơi như thế nào so với đồng trang, đồng lứa của chúng ở miền xuôi? Vậy là tiếp tục hành trình ngược lên đường 10 để tìm hiểu.

Cách đây 10 năm tròn, tôi đã đến bản Bạch Đàn. Ngày đó người dẫn đường cho tôi là chị Hồ Thị Hà, Chủ tịch Hội Phụ nữ xã Lâm Thủy. Đường vào bản gập ghềnh, chỉ là lối đi hẹp xuyên giữa đại ngàn Trường Sơn. Muốn đến được với bản, tôi cùng chị Hà phải trèo qua chín quả đồi cao, lội thêm chín lần suối.

Sức trẻ như tôi cố bám theo bước chân thoăn thoắt của chị Hà cũng "bở cả hơi tai". Thỉnh thoảng, chị động viên tôi: "Cố lên, chỉ còn tầm quăng rạ nữa là tới nơi".

< Học sinh bản Mít, xã Kim Thủy đi bộ hơn 5km đến trường.

Bây giờ trở lại Bạch Đàn không còn phải cắt rừng, trèo non, lội suối. Con đường nối từ đường Hồ Chí Minh nhánh phía tây vào bản đang được gấp rút hoàn thành, rộng thoáng. Xe máy cài số hai, chạy rì rì tầm 30 phút là đến bản.
Bản Bạch Đàn có 46 hộ, 217 khẩu. Dù địa hình chia cắt, xa trung tâm xã, nhưng được sự quan tâm đầu tư của Đảng và Nhà nước, đến nay Bạch Đàn đang dần định hình bản kiểu mới của đồng bào dân tộc Vân Kiều xã Lâm Thủy. Ngoài hệ thống trường học, nhà văn hóa, hệ thống lưới điện... bây giờ có thêm con đường, bản Bạch Đàn xích lại gần hơn với trung tâm xã và miền xuôi.

< Lớp mầm non bản Bạch Đàn trong giờ học.

Điểm trường bản Bạch Đàn thuộc Trường TH và THCS xã Lâm Thủy có 33 học sinh từ lớp một đến lớp 5. Cắm bản dạy học gồm 4 giáo viên trẻ từ miền xuôi lên. Chung khuôn viên với điểm trường là lớp học mầm non gồm 17 cháu do cô giáo Cao Thị Măng làm chủ nhiệm. Thầy giáo Nguyễn Quang Hùng, Phó hiệu trưởng Trường TH và THCS Lâm Thủy, người từng có thâm niên 10 năm gắn bó với sự nghiệp trồng người tại xã Lâm Thủy tâm sự rằng: "Chúng tôi vào cắm bản Bạch Đàn dạy chữ đầu tiên, ngày đó đi bộ, vất vả lắm! Những lúc gặp mưa, lũ lụt chia cắt mất đường ra, thầy giáo ở lại hàng tháng trời với bản, với dân, với học sinh. Lương thực cạn dần, chỉ biết nhờ vào dân. Đồng bào Vân Kiều thương thầy giáo dưới xuôi, hạt gạo, củ sắn, củ khoai đều mang cho. Sự nghiệp giáo dục tại bản Bạch Đàn từ đó phát triển dần lên. Con em trong bản đều chịu khó đến trường, không ai bỏ học giữa chừng".

< Bố mẹ lên rẫy, chú bé Vân Kiều bản Bạch Đàn ở nhà một mình.

Trưa tháng năm nắng gắt, nhóm bạn: Hồ Văn Lửa, Hồ Văn Tam, Hồ Thị Dương và Hồ Thị Vừa... cùng học lớp 5 mang sách vở ra ven bờ suối trốn nắng, tranh thủ học bài. Những đứa trẻ Vân Kiều ngoan hiền, tóc cháy khét nắng, bàn tay chai sạn chăm chỉ lật từng trang sách. Tiếng trẻ học bài vang vọng giữa đại ngàn Trường Sơn. Hồ Thị Vừa, Chi đội trưởng Đội thiếu niên tiền phong ra dáng là một thủ lĩnh, em cho biết: "Chúng cháu phải cố gắng học cho giỏi, để sau này tiếp tục vượt qua rặng núi cao kia, đem cái ánh sáng văn minh về cho bản. Để bản Bạch Đàn không còn nghèo khổ như bây giờ nữa".

< Nụ cười rạng rỡ của những đứa trẻ bản Bạch Đàn.

Bản Bạch Đàn còn nghèo lắm, như lời Vừa nói. Tôi đi một vòng quanh bản, thấy đâu đâu cũng ngập đầy cỏ dại. Vài con bò thả rông uể oải gặm cỏ, một vài con chạy vào dưới gầm nhà sàn tránh nắng. Những ngôi nhà sàn lợp lá lúp xúp, xơ xác trong nắng rát. Những đứa trẻ áo quần sờn rách, chân trần vẫn vô tư chơi đùa. Bữa cơm trưa của vợ chồng Hồ Văn Dư, Hồ Thị Mó và hai con gái nhỏ chỉ là nồi cơm trắng và rau rừng. Hồ Văn Dự mời tôi chân tình: "Cán bộ ăn cơm!". "Cán bộ ăn... hết cơm, hai con nhỏ đói cái bụng thì sao?". "Ơ! Không có mô... nhà còn gạo mà!". Cũng như nhiều gia đình khác trong bản, nhà Hồ Văn Dự chủ yếu trồng sắn và các loại đậu, mỗi mùa thu hoạch đem đổi lấy gạo trắng, thắt lưng buộc bụng cũng chỉ đủ lương thực khoảng 6 tháng.

2- Những năm kháng chiến chống Mỹ, Đoàn 559- Bộ đội Trường Sơn chọn Làng Ho (xã Kim Thủy) làm điểm tập trung vũ khí, đạn dược, lương thực, thực phẩm để gùi thồ vượt đỉnh đèo 1001 và Khe Hó, chi viện cho chiến trường miền Nam. Từ quy mô nhỏ, dần dần Làng Ho trở thành điểm trung chuyển hàng hóa lớn của Binh trạm 27, Đoàn 559. Số nhân công bốc vác, gùi, thồ hàng có lúc đến hàng ngàn người. Ở Làng Ho đi qua nước bạn Lào chưa đầy 10km, vào Quảng Trị cũng chừng 20km. Đồng bào Vân Kiều Làng Ho một lòng theo Đảng, theo Bác Hồ, che chở cho bộ đội, hàng hóa, vũ khí, đạn dược... an toàn. Làng Ho trong thời bình, gia đình nào cũng có công sâu nặng với quê hương, đất nước.

Tri ân với đồng bào Vân Kiều Làng Ho, chương trình "Nghĩa tình Trường Sơn" hỗ trợ trên 3 tỷ đồng xây dựng tại Làng Ho một cụm bản văn hóa với các hạng mục: nhà ở, nhà vệ sinh, hệ thống nước sạch, trạm xá quân dân y kết hợp... Đến Làng Ho, ấm lòng khi thấy trung tâm của bản mọc lên những ngôi nhà khang trang: trạm xá quân dân y kết hợp, trường học, nhà văn hóa... Nhưng đi sâu vào tìm hiểu các bản như bản Mít, bản Trung đoàn, bản Cát, bản Rum... đời sống đồng bào Vân Kiều vẫn còn hết sức khó khăn. Đặc biệt, tại đây sau mấy chục năm hòa bình, người Vân Kiều đêm đêm vẫn sống dưới ánh đèn dầu le lói. Thiếu điện, đời sống tinh thần của bà con còn nghèo nàn hơn.

Trường TH và THCS số 2 xã Kim Thủy đóng tại Làng Ho có 137 học sinh, trong đó bậc TH gồm 8 lớp, 124 học sinh; 1 lớp 6 với 13 em. Để đến trường học cái chữ Bác Hồ, trẻ em Vân Kiều bản Rum, bản Cát phải đi bộ hơn 5 cây số. Thầy cô Trường TH và THCS số 2 Kim Thủy thương các cháu lớp một nhỏ bé, sáng sớm phải huy động xe máy vào tận bản đón các em ra trường.

Buổi sáng, khi con gà rừng te te gáy, ông mặt trời chưa vượt qua dãy núi đằng đông, những đứa trẻ Vân Kiều í ới gọi nhau kịp đến trường. Hành trang của các em ngoài cặp sách là một nắm cơm đựng trong túi ni lon, trưa ở lại trường có chút cầm hơi tiếp tục học buổi chiều. "Các em học sinh của trường thiếu cái gì nhất?"- Tôi hỏi thầy hiệu trưởng. "Các em cái gì cũng thiếu cả. Áo quần, dép, phương tiện đến trường, hay như một mong muốn dung dị của thầy cô, sao cho học sinh mỗi em có một chiếc ăng- gô để đựng cơm. Trời mùa hè, nắng rát như thế này, cơm nắm trong túi ni lon, đến trưa bị ôi, thiu cả. Rứa mà vẫn cố gắng nuốt. Thức ăn kèm theo quanh năm chỉ toàn muối. Sau khi ăn xong, học sinh xuống suối giặt sạch bao ni lon cất vào cặp để ngày mai có cái mà đựng cơm đến trường".

Hồ Văn Sức học lớp 6, là anh cả trong gia đình có 4 anh em. Nhà Sức nghèo, nghèo đến mức ba mẹ không mua nổi cho con tấm áo mới mỗi mùa tựu trường. Thầy hiệu trưởng thương Sức, cứ mỗi lần về nhà lại vận động được ít áo quần cũ lên cho Sức và những học sinh neo đơn khác. Không có nổi một bộ áo quần lành lặn để đến trường là hoàn cảnh chung của những đứa trẻ Vân Kiều. Một phần trong các em, ngày nắng cũng như ngày mưa đều đi học bằng đôi chân trần.

Giống như Hồ Văn Sức, một chú bé khác tôi tiếp chuyện có cái tên khá đặc biệt- Hồ Văn Cà Rịt. Cà Rịt từng về thị trấn Kiến Giang tham gia giao lưu chương trình "Tiếng Việt của chúng em", nên khá mạnh dạn. Hỏi: "Đi học về Cà Rịt biết làm gì?". Đáp: "Cà Rịt biết nấu cơm, quét nhà giúp bố mẹ". Hỏi: "Ước mơ của Cà Rịt?". Trả lời: "Học thật giỏi". "Học giỏi để làm gì?". Cà Rịt cười: "Học giỏi để sau này đi làm thầy giáo".

Thương lắm những đứa trẻ Vân Kiều vùng cao, vẫn biết mỗi ngày đến trường với các em là cả một niềm vui, nhưng sao cái nghèo vẫn còn bám riết lấy đôi chân trẻ thơ nơi đại ngàn Trường Sơn. Điều này cứ ám ảnh lấy tôi trên con đường ngót trăm cây số về xuôi. Rồi ước ao, có một ngày toàn cộng đồng vào cuộc, chăm lo cho thế hệ măng non này cuộc sống no ấm, hạnh phúc hơn.

Hết
Kỳ 1 - Kỳ 2 - Kỳ 3 - Kỳ 4 - Kỳ cuối

Du lịch, GO! - Theo Ngô Thanh Long (web Quảng Bình), internet

Ký sự đường 10 - Kỳ 4: Tiếp nối bản anh hùng ca

(Tiếp theo) - Đại tá Nguyễn Văn Quốc, Đoàn trưởng Đoàn Kinh tế- Quốc phòng (KTQP) 79 thuộc Binh đoàn 15 dáng người gọn gàng, chân đóng dày ba ta, trưa đường 10 nắng gắt, anh gạt mồ hôi trên mặt bảo: "Mình vừa đi kiểm tra dưới cơ sở về!".

Chuyện Đoàn KTQP được thành lập, hành quân từ Tây Nguyên ra đứng chân trên đường 10 ngoài thực hiện nhiệm vụ chính trị chung của Binh đoàn 15, còn là sự tri ân với đồng bào thiểu số phía tây huyện Lệ Thủy và tiếp nối bản anh hùng ca trên đường 10 trong thời bình, thời công nghiệp hóa, hiện đại hóa quê hương, đất nước.

Hẳn nếu là người Quảng Bình ai cũng ít nhiều biết đến Thiếu tướng Nguyễn Xuân Sang, Anh hùng lực lượng vũ trang, Anh hùng lao động, Tư lệnh Binh đoàn 15 đóng quân tại vùng đất Tây Nguyên xa xôi. Ông vốn quê xã Dương Thủy, huyện Lệ Thủy. Vì thế, dù đóng quân nơi xa nhưng trong tâm vị tướng vẫn luôn nhớ về Quảng Bình. Làm gì cho Quảng Bình, nhất là địa bàn vùng sâu, vùng xa, nơi đồng bào Vân Kiều kiên trung một lòng theo theo Bác Hồ làm cách mạng, giải phóng đất nước nhưng bây giờ vẫn đang gặp muôn vàn khó khăn? Được sự nhất trí của Bộ Quốc phòng và sự đồng thuận từ tỉnh Quảng Bình, tháng 8- 2009, Bộ Tư lệnh Binh đoàn 15 quyết định điều động Đoàn KTQP 79 ở xã Mo Ray, huyện Sa Thầy, tỉnh Kon Tum ra Quảng Bình.

Dự án khu kinh tế quốc phòng phía tây nam huyện Lệ Thủy dọc đường 10 thuộc địa bàn của 3 xã Ngân Thủy, Lâm Thủy, Kim Thủy từ đó được hình thành. Đại tá Nguyễn Văn Quốc tâm sự: "Ngày đoàn lên đây, khó khăn bộn bề. Một mặt chúng tôi xây dựng lán trại ở tạm, mặt khác nhanh chóng triển khai công việc ngay. Với diện tích được giao trồng cao su trên 1.139 ha, tổng mức đầu tư đến năm 2020 sẽ lên đến 1.426 tỷ đồng". Trong ba năm từ 2009 đến 2011 Đoàn KTQP 79 đã trồng được 450 ha cao su, trong đó năm 2009 trồng 26 ha; năm 2010 trồng 154 ha và năm 2011 trồng 270 ha. Những người lính Đoàn KTQP 79 và đồng bào Vân Kiều xã Ngân Thủy chọn cái tên đồi 26 để đặt tên cho diện tích cao su trồng đầu tiên, bây giờ đã tròn ba tuổi. Cây cao su đứng chân vững vàng trên đường 10, càng tạo thêm niềm tin vững chắc cho những người lính thời bình đi xây dựng kinh tế, đem lại sự đổi thay cho các xã Ngân Thủy, Lâm Thủy, Kim Thủy dọc đường 10.

Trung tá Nguyễn Sỹ Luân, Đoàn phó Đoàn KTQP 79 kể: "Đến với đường 10, chúng tôi xác định công tác dân vận phải ưu tiên hàng đầu. Qua những lần tiếp xúc với đồng bào Vân Kiều ở các bản, chúng tôi tìm ra nguyên nhân vì sao bà con không thoát được nghèo. Tập quán canh tác lạc hậu, chặt- đốt- cốt- trỉa, sống nhờ rừng, dựa hẳn vào rừng, khi Nhà nước có chủ trương đóng cửa rừng, đồng bào không còn chỗ bám víu nên luẩn quẩn với cái nghèo. Đảng và Nhà nước dù có nhiều giải pháp hỗ trợ nhưng thiếu tính khả thi, chỉ là giải pháp tình thế, trước mắt. Đoàn KTQP 79 với đặc thù của mình có cách giúp đỡ riêng, cùng ăn, cùng ở, cùng làm với dân, bám dân, bắt tay chỉ cho dân".
Và quả thật đã có một sự đổi thay đáng kể trên đường 10, kể từ ngày Đoàn KTQP 79 đến đóng quân. Tổng số lao động của đơn vị hiện tại có 208 người; 124 người lao động trực tiếp, trong đó 42 lao động nữ; 28 lao động người dân tộc Vân Kiều. Bình quân mỗi lao động nhận khoán 3,6 ha cao su.  Nhờ cách giao khoán trực tiếp cho người lao động mà diện tích cao su ngày càng phát triển, người lao động gắn bó với cao su, với Đoàn KTQP 79. Mức lương bình quân cũng tăng theo, từ 3 triệu đồng năm 2010 lên trên 4 triệu đồng năm 2011.

Tôi gặp chị Hồ Thị Bông cùng con dâu ở xã Ngân Thủy đang chăm chăm sóc diện tích cao su nhận khoán từ Đoàn KTQP 79. Trưa đường 10, nắng cháy rát mặt, thế mà hai mẹ con chị Bông vẫn chăm chỉ nhổ từng gốc cỏ dưới chân các gốc cao su gần 3 năm tuổi. Chị nói: "Trong gia đình, ngoài chị và con dâu, còn có thêm chồng chị đều được nhận vào làm công nhân tại Đoàn KTQP 79". "Một tháng được trả lương bao nhiêu tiền?"- Tôi hỏi. "Hơn 4 triệu đồng. Làm nhiều thì được trả tiền nhiều, tùy theo sức lao động của mình thôi mà!". "Từ trước đến nay, thu nhập của gia đình được nhiều như vậy không?". Chị Hồ Thị Bông lắc đầu: "Ơ, không có mô! Trước đến nay, làm nương, làm rẫy vẫn thiếu ăn, nghèo đói. Giờ có bộ đội về giúp dân, vui cái bụng lắm. Tháng lương đầu tiên nhận hơn 3 triệu đồng, không tin vào mắt mình, vì có lúc mô cầm được số tiền lớn như vậy. Bây giờ thì tin rồi, nghe theo bộ đội, chắc chắn trong tương lai không xa, đồng bào Vân Kiều đường 10 sẽ chiến thắng nghèo đói đó!".

Năm 2011, Đoàn KTQP 79 tiếp tục hỗ trợ xây dựng 6 ngôi nhà đại đoàn kết trị giá 180 triệu đồng cho 6 hộ gia đình tại 3 xã: Ngân Thủy, Lâm Thủy, Kim Thủy. Hỗ trợ xây nhà di dãn dân cho 18 hộ công nhân (trong đó có 4 hộ đồng bào Vân Kiều) trị giá 20 triệu đồng/hộ. Tổ chức khám, chữa bệnh, cấp phát thuốc miễn phí cho bà con dân tộc xã Ngân Thủy, trị giá 40 triệu đồng. Đặc biệt kể từ ngày đứng chân trên đường 10, Đoàn KTQP 79 phối hợp rất hiệu quả với Công ty LCN Long Đại, Lâm trường Khe Giữa, Đồn biên phòng 601- Làng Ho, Hạt kiểm lâm Lệ Thủy... bắt giữ nhiều vụ khai thác gỗ trái phép tại lâm phần; góp phần giữ vững an ninh chính trị, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân trên địa bàn biên giới.

Sau chuyến kiểm tra và làm việc của đồng chí Phó Chủ tịch UBND tỉnh Trần Văn Tuân tại Đoàn KTQP 79 trong tháng 10- 2011, tại thông báo kết luận số 854/TB-UBND, đã đánh giá về sự thành công ban đầu của dự án khu kinh tế quốc phòng phía tây nam huyện Lệ Thủy: "Đoàn KTQP 79 là đơn vị đầu tiên thực hiện chủ trương chuyển đổi rừng tự nhiên nghèo kiệt sang trồng cao su tại Quảng Bình, đơn vị giàu kinh nghiệm trồng cao su và xây dựng khu kinh tế kết hợp quốc phòng. Qua kiểm tra thực tế cho thấy, cao su của đơn vị mới được trồng trong thời gian ngắn nhưng phát triển rất tốt, phù hợp với khí hậu, thổ nhưỡng khu vực tây nam Quảng Bình.

Bên cạnh đó trong quá trình khai thác, thực hiện dự án, Đoàn KTQP 79 cũng xây dựng được mối quan hệ rất tốt, gắn kết với các sở, ngành, chính quyền sở tại và nhân dân trên địa bàn. Ưu tiên tuyển dụng người dân địa phương vào làm việc tại đơn vị, nhất là đồng bào dân tộc ít người, giải quyết việc làm, góp phần nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho người dân trong khu vực. Phối hợp chặt chẽ với các lực lượng chức năng của địa phương và các đơn vị của Công ty LCN Long Đại làm tốt công tác bảo vệ rừng. Tích cực hưởng ứng các hoạt động xã hội như: ũng hộ xây dựng nhà đại đoàn kết; thăm, tặng quà đối tượng chính sách trong các dịp lễ, tết; tài trợ cho các hoạt động mang tính an sinh xã hội...".

Câu chuyện viết trên đường 10 còn rất dài, những người lính Binh đoàn 15 trong thời bình đang tiếp bước truyền thống anh hùng của thế hệ cha anh đi trước, sát cánh cùng đồng bào dệt nên bản anh hùng ca trong thời kỳ đổi mới.

Còn tiếp
Kỳ 1 - Kỳ 2 - Kỳ 3 - Kỳ 4 - Kỳ cuối

Du lịch, GO! - Theo Ngô Thanh Long (web Quảng Bình), internet

Dọc đường ven biển

Chạy dọc tuyến đường ven biển trong nắng Tháng tư rực rỡ, thu vào tầm mắt bao cảnh sắc về cuộc sống và thiên nhiên hai bên đường, chúng tôi không khỏi cảm thấy phấn chấn và tràn đầy hy vọng vì đang được đi trên con đường chiến lược kinh tế - quốc phòng của địa phương. Con đường đang thành hình ngày một rõ nét, mở ra triển vọng phát triển kinh tế - xã hội, đánh thức tiềm năng của một tỉnh cực Nam Trung bộ còn nhiều khó khăn như tỉnh ta.

Thông tuyến chưa lâu nhưng những lời khen nức lòng về vẻ đẹp của đường ven biển đoạn Hiệp Kiết – Bình Tiên và Bình Tiên – Vĩnh Hy khiến chúng tôi háo hức chạy xe ra tận điểm cực bắc Ninh Thuận để… vòng về theo đường ven biển. Không bỏ công dang nắng hứng gió, con đường còn thơm mùi nhựa mới uốn lượn giữa rừng núi hoang sơ như dẫn chúng tôi vào cổ tích.

Đan xen giữa những tán cây cổ thụ nhiệt đới điềm nhiên trước nắng gió là một vài con suối nhỏ trong veo róc rách như sơn nữ e thẹn giấu mình trong đá, làm nên bức tranh sơn thủy hữu tình. Trên lưng chừng núi, chúng tôi được ngắm nhìn biển trời Bình Tiên với những con sóng xanh vỗ vào bờ đá, bãi cát trắng mịn không một dấu chân người, nước biển trong veo khúc xạ ánh nắng lấp lánh tạo nên những mảng màu xanh đậm nhạt,…

Thật khó có thể tin là một Bình Tiên thơ mộng như thế đã giấu mình sau những trùng điệp núi non suốt ngần ấy năm, để hôm nay như “nàng công chúa ngủ trong rừng” chợt tỉnh giấc, hứa hẹn trở thành một địa điểm du lịch sinh thái nổi tiếng trong và ngoài nước.

Dù đã nhiều lần đến Vĩnh Hy, nhưng chúng tôi vẫn không khỏi ngỡ ngàng khi nhìn ngắm vũng vịnh từ trên cung đường vắt ngang lưng núi. Khi Dự án Đường ven biển hoàn thành, lượng xe cộ tấp nập trên cung đường trẻ trung đầy sức sống này, những cái tên như Bình Tiên, Vĩnh Hy, Nam Núi Chúa, bãi Rùa Đẻ,… sẽ nằm trong danh sách những điểm du lịch sinh thái lý thú không thể bỏ qua của Việt Nam, bởi tính đặc sắc về khí hậu và hệ động thực vật nơi đây.

Trên tuyến đường ven biển dài hơn 110 km có 2 điểm nhấn là 2 cây cầu: An Đông (dài trên 3,5 km, tổng mức đầu tư trên 1.300 tỷ đồng) và Ninh Chữ (dài 1,7 km, mức đầu tư 192,748 tỷ đồng). Đây là 2 gạch nối có ý nghĩa chiến lược về kinh tế - quốc phòng địa phương. Không chỉ nối liền vùng kinh tế phía Nam thuộc hai huyện Ninh Phước, Thuận Nam với Tp.Phan Rang – Tháp Chàm, cầu An Đông bắt qua cửa sông Dinh còn làm tăng thêm sức mạnh quốc phòng, hỗ trợ giảm thiểu thiệt hại do thiên tai gây ra. Một điểm đặc biệt của 2 cây cầu là đều đi qua 2 cảng cá lớn của tỉnh là cảng Đông Hải và cảng Ninh Chử, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động kinh doanh, dịch vụ hải sản tại đây. Hiện tiến độ thi công dự án cầu Ninh Chữ đã đạt hơn 40%, cầu An Đông đạt 20% và đang được đẩy nhanh để có thể hoàn thành và đưa vào sử dụng trong năm 2014.

< Sơ đồ các tuyến đường hiện có và cầu Ninh Chữ cùng con đường được quy hoạch sẽ xây dựng dọc ven biển Ninh Thuận.

Tiếp tục cuộc hành trình xuôi về phía Nam, chúng tôi được thả mình giữa con đường rộng với dải phân cách cố định ở giữa. Những trụ đèn đã được lắp đặt chắc chắn, chỉ còn đợi ngày được tỏa ánh sáng dịu dàng bên bờ biển An Hải, Phước Dinh. Hai bên đường là những công ty, doanh nghiệp giống hải sản quy mô lớn nằm san sát nhau. Đây chính là khu vực được định hướng trở thành Trung tâm giống hải sản chất lượng cao của cả nước. Và một khi tuyến đường hoàn thành, việc thu hút ngày càng đông nhà đầu tư trong lĩnh vực thủy sản đến địa phương là điều tất yếu, góp phần định hình khu vực sản xuất gắn với phát triển kinh tế biển, hình thành cụm dân cư dọc hai bên đường. Sơn Hải (Phước Dinh) sẽ dần thoát khỏi số phận bãi ngang nghèo khó, xa xôi, lọt thỏm sau những triền cát và đồi núi khô cằn. Và Vĩnh Trường (Phước Dinh) sắp mọc lên Nhà máy điện hạt nhân đầu tiên của Việt Nam, sẽ xuất hiện trên bản đồ năng lượng quốc gia như một dấu son đỏ, bung tỏa đến mọi miền đất nước.

< Tuyến đường ven biển Phú Thọ - Mũi Dinh.

Từ con đường này, việc tiếp cận các điểm du lịch khám phá, mạo hiểm như Mũi Sừng Trâu, Mũi Dinh,… với những bờ đá cheo leo bên bờ biển, kéo dài đến tận Cà Ná, sẽ không còn “trần ai” như trước đây khi du khách không còn phải đi bộ hàng giờ đồng hồ băng qua đồi cát hoặc thuê người địa phương chở. Một tương lai trù phú với những khu nghỉ dưỡng, khu du lịch cao cấp sẽ không quá xa vời với vùng đất này.

Có thể nói, hành trình dọc tuyến đường ven biển là hành trình khám phá, trải nghiệm về một Ninh Thuận đầy tiềm năng. Từ các cảng biển Cà Ná, Đông Hải, Ninh Chữ đến Trung tâm giống Hải sản của cả nước; từ đồi cát đặc trưng khí hậu khô hạn tiểu vùng sa mạc đến những vũng vịnh nhiệt đới đẹp hút hồn; từ những đàn dê, cừu tha thẩn trên đồi cỏ Sơn Hải đến giàn nho Thái An xanh mướt, ruộng tỏi cay nồng đậm vị Nhơn Hải; từ cánh đồng muối chang chang nắng đến ngọn hải đăng tư lự bên bờ đá Mũi Dinh,...

Tương lai không xa, bên bờ biển thơ mộng xanh biếc sẽ là một Ninh Thuận trù phú xinh tươi chào đón lữ khách gần xa đi trên tuyến đường trẻ trung, xinh đẹp.

Đường Vĩnh Hy - Bình Tiên hiện nay?

Du lịch, GO! - Theo báo Ninh Thuận + internet

 
Bếp từ, Bep tu, Bếp từ giá rẻ, Bếp từ hồng ngoại, Bếp từ đôi, Bếp điện từ, Bếp hồng ngoại, Bep hong ngoai